1. Quy trình tiến hành thủ tục sang tên se máy cũ

Trường hợp thứ nhất: Sang tên xe trong cùng tỉnh thành phố.

- Hồ sơ sang tên xe máy cần chuẩn bị:

Căn cứ Thông tư 58/2020/BCA thì hồ sơ bao gồm:

Điều 19. Giải quyết đăng ký sang tên xe đối với trường hợp xe đã chuyển quyền sở hữu qua nhiều người
1. Thủ tục, hồ sơ sang tên: Người đang sử dụng xe đến cơ quan quản lý hồ sơ đăng ký xe để làm thủ tục sang tên, xuất trình giấy tờ theo quy định tại Điều 9 Thông tư này, ghi rõ quá trình mua bán, giao nhận xe hợp pháp, cam kết về nguồn gốc xuất xứ của xe và nộp giấy tờ sau:
a) Giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư này;
b) Giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng (nếu có).
2. Thủ tục, hồ sơ đăng ký sang tên: Người đang sử dụng xe liên hệ với cơ quan đăng ký xe nơi cư trú: xuất trình giấy tờ theo quy định tại Điều 9 Thông tư này và nộp giấy tờ sau:
a) Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu số 01);
b) Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định;
c) Giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe (đối với trường hợp khác tỉnh và mô tô khác điểm đăng ký xe).
3. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký xe:
a) Trường hợp người đang sử dụng xe có giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng: Trong thời hạn hai ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý hồ sơ xe giải quyết đăng ký, cấp biển số (đối với ô tô sang tên trong cùng tỉnh và mô tô cùng điểm đăng ký xe) hoặc cấp Giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe cho người đang sử dụng xe để làm thủ tục đăng ký, cấp biển số tại nơi cư trú;
b) Trường hợp người đang sử dụng xe không có giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe: Cơ quan quản lý hồ sơ xe cấp giấy hẹn có giá trị được sử dụng xe trong thời gian 30 ngày; gửi thông báo cho người đứng tên trong đăng ký xe, niêm yết công khai trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông và tại trụ sở cơ quan; tra cứu tàng thư xe mất cắp và dữ liệu đăng ký xe ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ sang tên. Sau 30 ngày nếu không tranh chấp, khiếu kiện, cơ quan quản lý hồ sơ xe phải giải quyết đăng ký, cấp biển số (đối với ô tô sang tên trong cùng tỉnh và mô tô cùng điểm đăng ký xe) hoặc cấp Giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe cho người đang sử dụng xe để làm thủ tục đăng ký, cấp biển số tại nơi cư trú.
4. Trách nhiệm của người đang sử dụng xe:
a) Trực tiếp đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục sang tên;
b) Kê khai cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nguồn gốc xuất xứ của xe, quá trình mua bán, giao nhận xe;
c) Khai và nộp lệ phí trước bạ theo quy định của pháp luật.
5. Trách nhiệm của các đơn vị quản lý cơ sở dữ liệu xe mất cắp, xe vật chứng: Ngay sau khi tiếp nhận văn bản của cơ quan đăng ký xe đề nghị xác minh, đơn vị quản lý cơ sở dữ liệu xe mất cắp, xe vật chứng trả lời bằng văn bản cho cơ quan đăng ký xe.

Các khoản phí, lệ phí phải nộp khi sang tên xe máy:

Lệ phí trước bạ:

Lệ phí sang tên se máy là 1% . Căn cứ pháp lý thông tư 201/2016/TT-BTC

Điều 4. Mức thư lệ phí trước bạn theo tỷ lệ (%)...

4. Xe máy mức thu là 2%. Riêng:...

b) Đối với xe máy nộp lệ phí trước bạ lần thứ 02 trở đi (là xe máy đã được chủ tài sản kê khai nộp lệ phí trước bạ tại Việt Nam thì lần kê khai nộp lệ phí trước bạ tiếp theo được xác định là lần thứ 02 trở đi) được áp dụng mức thu là 1%.

Trường hợp chủ tài sản đã kê khai, nộp lệ phí trước bạ đối với xe máy là 2%, sau đó chuyển giao cho tổ chức, cá nhân ở địa bàn quy định tại điểm a khoản này thì nộp lệ phí trước bạ theo mức là 5%. Trường hợp xe đã nộp lệ phí trước bạ theo mức thu 5% thì các lần chuyển nhượng tiếp theo nộp lệ phí trước bạ với mức thu 1%.

Lệ phí cấp biển

Căn cứ pháp lý Thông tư 299/2016/TT-BTC có quy định tại điều 5 như sau:

1. Mức thu lệ phí đăng ký, cấp biển phương tiện giao thông được thực hiện như sau:

Số TT

Chỉ tiêu

Khu vực I

Khu vực II

Khu vực III

I

Cấp mới giấy đăng ký kèm theo biển số

4

Xe máy (theo giá tính lệ phí trước bạ)

a

Trị giá từ 15.000.000 đồng trở xuống

500.000 - 1.000.000

200.000

50.000

b

Trị giá trên 15.000.000 đến 40.000.000 đồng

1.000.000 - 2.000.000

400.000

50.000

c

Trị giá trên 40.000.000 đồng

2.000.000 - 4.000.000

800.000

50.000

d

Xe máy 3 bánh chuyên dùng cho người tàn tật

50.000

50.000

50.000

II

Cấp đổi giấy đăng ký

1

Cấp đổi giấy đăng ký kèm theo biển số

c

Xe máy (trừ xe máy di chuyển từ khu vực có mức thu thấp về khu vực có mức thu cao áp dụng theo điểm 4.1 khoản 4 Điều này)

50.000

50.000

50.000

3

Cấp lại biển số

100.000

100.000

100.000

III

Cấp giấy đăng ký và biển số tạm thời (xe ô tô và xe máy)

50.000

50.000

50.000

Trường hợp di chuyển từ khu vực có mức thu thấp về khu vực có mức thu cao áp dụng theo điểm 4.1 khoản Điều 4 như sau;

>> Xem thêm:  Một người có thể đăng ký hai hộ khẩu tại hai tỉnh khác nhau được không ? Thủ tục cấp lại sổ hộ khẩu ?

4.1. ...xe máy chuyển từ khu vực phải nộp lệ phí quy định mức thu thấp về khu vực phải nộp lệ phí quy định mức thu cao (không phân biệt có đổi hay không đổi chủ tài sản),

2. Cho bạn mượn chứng minh thư (CMTND) để mua hàng trả góp bị xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi hỏi: Tôi có cho bạn mượn chứng minh thư nhân dân để mua hàng trả góp nhưng bạn tôi không có khả năng trả. Nếu sự việc được phát giác tôi sẽ bị xử lý như thế nào ?
Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 7 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BCA quy định sử dụng Chứng minh nhân dân như sau:

"1. Công dân được sử dụng Chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. Số Chứng minh nhân dân được dùng để ghi vào một số loại giấy tờ khác của công dân.

2. Nghiêm cấm việc làm giả, tẩy xóa, sửa chữa, cho thuê, cho mượn, thế chấp... Chứng minh nhân dân."

Điểm a) Khoản 2 Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chứng minh nhân dân như sau:

"2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;"

Như vậy công dân được sử dụng CMND của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. Số CMND được dùng để ghi vào một số loại giấy tờ khác của công dân, pháp luật nghiêm cấm việc làm giả, tẩy xóa, sửa chữa, cho thuê, cho mượn, thế chấp... CMND. Như vậy việc Nhanh cho Hậu mượn chứng minh thư nhân dân là hành vi trái pháp luật.

Do đó Nhanh không thể yêu cầu Bạn của bạn viết bản cam kết bởi bản cam kết này sẽ không có giá trị.

Điều 461 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về việc mua trả chậm, trả dần như sau:

Điều 453. Mua trả chậm, trả dần
1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Tư vấn về hình thức mua trả góp ô tô ?

Em xin chào luật sư, Em có vướng mắc như thế này, mong luật sư tư vấn giúp đỡ em ạ. Tháng 6/2015 em có mua 3 cái taxi theo hình thức trả góp của một hãng. Lúc đầu, công ty yêu cầu đặt cọc 10 triệu để đăng ký mua 1 xe. Sau đó khoảng 10 ngày, công ty gọi em lên ký một hợp đồng hợp tác kinh doanh, tài sản là xe taxi.
Trong hợp đồng có ghi rõ số tiền đặt cọc, hàng tháng thanh toán gốc lãi, phí quản lý và ký kết giữa em với phó giám đốc chi nhánh ( không phải là đại diện trong đăng ký kinh doanh của công ty). Một biên bản bàn giao xe. cả hợp đồng và biên bản bàn giao xe không công chứng. Khoảng 1 tháng sau, công ty lại gọi em lên ký hợp đồng thuê xe tại văn phòng công chứng. Em thắc mắc tại sao lại ký hợp đồng này thì công ty yêu cầu là quy định của công ty và bắt buộc ký thì mới được mua xe. Tuy nhiên trong quá trình kinh doanh, công ty nhiều lần đưa ra những khoản mới như lắp thêm thiết bị, đóng phí này phí kia. Ngoài ra, nếu trả chậm gốc, lãi không đúng hạn phạt rất nặng. Sau đó đến tháng 4/2016 vì em có nhu cầu mua thêm xe và được người của công ty giới thiệu mua chuyển nhượng của người khác cùng hãng. Em có mua và công ty lại làm hợp đồng thuê xe. Em không đồng ý ký và đề nghị làm hợp đồng mua xe trả góp chứ không phải là thuê xe. sau 3 lần không ký được hợp đồng do công ty không sửa, công ty thu hồi xe của em và bảo về danh nghĩa vẫn của người kia. Vì em đã trả tiền cho người kia và đề nghị được làm việc, phó tổng giám đốc có nói là công ty sai ngay từ đầu, viết hợp đồng thuê xe để lách luật, đề nghị vợ chồng em giúp đỡ.
Em đồng ý ký và đóng hết tiền tháng 5+6. Trong tháng 6 em cũng đã đề xuất công ty cho em chuyển khoản hàng tháng để có bên thứ 3 và đề nghị trả lời bằng văn bản (tránh trường hợp nhiều lần công ty làm một kiểu, nói một kiểu) nhưng công ty không có văn bản cụ thể trả lời mà chỉ gạch mấy đầu dòng trên đơn của em là không đồng ý. Đối với 3 cái xe kia. Em có làm theo hướng dẫn của giám đốc chi nhánh, nếu chưa thanh toán được tiền gốc thì viết đơn xin khất gốc và trả lãi. Vì nhiều trường hợp như thế. Em cũng làm theo, thanh toán tiền lãi. nhưng đến sáng ngày hôm sau, công ty đi thu xe của em về, bảo chưa đóng tiền. Em liên lạc với giám đốc nhưng không nghe máy. Buổi chiều em mang tiền đến đóng nhưng công ty không thu. Hôm sau em cũng đi đóng tiền nhưng cũng không thu. Từ hôm đó công ty giữ xe của em và bây giờ đơn phương thanh lý hợp đồng tất cả các xe, toàn bộ tiền đặt cọc, tiền em đã đóng 1 năm qua cũng không hoàn trả. Về chiếc xe mới, em đóng tiền nhưng cũng không thu.
Vậy luật sư cho em hỏi:
1. Em mua xe trả góp, về mặt hồ sơ, em ký kết như vậy thì hợp đồng hợp tác kinh doanh em có được công nhận không? hay chỉ được công nhận hợp đồng thuê xe trước pháp luật ?
2. Việc hướng dẫn em viết đơn xin khất gốc sau đó thu xe của em vì lý do thiếu tiền là đúng hay sai ?
3. Xe em mua trả góp, đang đi kinh doanh công ty thu giữ là đúng hay sai và việc em đóng tiền nhưng công ty không thu, yêu cầu đơn phương thanh lý, toàn bộ số tiền em đã đặt cọc, trả góp hàng tháng đều không được bồi thường. Trong giấy phép kinh doanh của công ty được phép bán buôn ô tô. Vậy bán taxi trả góp có đúng luật không ạ ?
Em rất mong luật sư giải đáp giúp em để giảm tối thiểu thiệt hại. Trong trường hợp này em nên làm như thế nào để đảm bảo quyền lợi của mình. Em xin trân trọng cám ơn

Cho bạn mượn chứng minh thư (CMTND) để mua hàng trả góp bị xử lý thế nào ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 453. Mua trả chậm, trả dần
1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo thông tin bạn cung cấp, thì bạn có nhu cầu mua xe trả góp của một hãng taxi thì các bên phải tiến hành ký kết hợp đồng mua bán trả dần và phải tuân thủ các thỏa thuận về quyền và nội dung, thời hạn trả dần theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định trên, thì việc bạn và hãng taxi ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh là không phù hợp với nội dung của loại hợp đồng này, do bạn là người có nhu cầu muốn mua xe nhưng chưa có đủ tiền để trả và công ty là bên có nhu cầu bán xe, còn theo quy định của pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh là loại hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. Do đó hợp đồng này sẽ bị vô hiệu do giả tạo.

Như bạn cung cấp, sau một khoảng thời gian bên công ty lại yêu cầu ký với bạn hợp đồng thuê tài sản là xe ô tô. Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 472. Hợp đồng thuê tài sản
Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.
Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Căn cứ theo quy định trên thì về ý chí của các bên và nội dung của hợp đồng hoàn toàn không phù hợp với nhau, như đã phân tích bên trên, bạn là người có nhu cầu muốn mua xe nhưng chưa có đủ tiền để trả và công ty là bên có nhu cầu bán xe, nếu các bên ký kết hợp đồng thuê tài sản thì về mặt nguyên tắc khi hết thời hạn thuê bạn phải trả lại tài sản là chiếc taxi và tiền thuê cho công ty, chứ không được mua xe của công ty.

Do đó, trong trường hợp này bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

4. Tư vấn mua nhà trả góp để con gái đứng tên ?

Xin cho hỏi sau này tài sản này là của con gái toàn quyền phải không ? cho dù tiền đó là do cha mẹ cháu mua ?

Tôi hỏi như vậy vì rằng đứa con gái ấy là con riêng của chồng với vợ trước, mà tôi thì lại không có con , vợ chồng tôi đã lớn tuổi không đứng tên góp nhà được , mà con gái đã 22 tuổi, lại rất khó dạy bảo , rất bất hiếu với chính cha đẻ của mình ?Tôi rất lo nếu không tính kỹ có có thể về sau cháu lại đuổi tôi và cha cháu ra khỏi nhà ?

Rất mong Luật sư cho tôi biết tôi còn cách nào để mua nhà trả góp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.D

Điều 3 Thông tư 32/2014/TT-NHNN sửa đổi thông tư 11/2013/TT-NHNN và nghị quyết 02/2013/NQ-CP Về cho vay hỗ trợ nhà ởbổ sung về đối tượng cho vay

Điều 3. Điều kiện cho vay

Ngoài các điều kiện cho vay theo quy định của pháp luật hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; quy định tại Thông tư số 07/2013/TT-BXD ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn việc xác định các đối tượng được vay vốn hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế Thông tư số 07/2013/TT-BXD khách hàng phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:

1. Đối với khách hàng cá nhân vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại:

a) Có hợp đồng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; hợp đồng thuê, mua nhà ở thương mại với chủ đầu tư;

b) Có mục đích vay vốn để trả khoản tiền chưa thanh toán mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70m2, giá bán dưới 15.000.000 đồng/m2 đối với các hợp đồng đã ký với chủ đầu tư kể từ ngày 07 tháng 01 năm 2013; hoặc có mục đích vay vốn để trả các khoản tiền chưa thanh toán với chủ đầu tư phát sinh kể từ ngày 21 tháng 8 năm 2014 để mua nhà ở thương mại có tổng giá trị hợp đồng mua bán (kể cả nhà và đất) không vượt quá 1.050.000.000 đồng;

c) Có đề nghị vay vốn để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại và cam kết khách hàng, các thành viên trong hộ gia đình của khách hàng chưa được vay vốn hỗ trợ tại ngân hàng theo quy định tại Thông tư này;

d) Có đủ vốn tối thiểu tham gia vào phương án vay theo quy định tại khoản 5 Điều này.

Khoản 3 Mục I nghị quyết 02/2013/NQ-CP quy định về đối tượng được hỗ trợ gói vay 30.000 tỷ như sau :

3. Về vốn tín dụng

a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:.................

- Chỉ đạo các ngân hàng thương mại nhà nước dành một lượng vốn hợp lý (tối thiểu khoảng 3% tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại nhà nước) để cho các đối tượng thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang vay để thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2 với lãi suất thấp, kỳ hạn trả nợ phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và cho vay đối với các doanh nghiệp xây dựng nhà ở xã hội, doanh nghiệp chuyển đổi công năng của dự án đầu tư sang dự án nhà ở xã hội với lãi suất hợp lý và kỳ hạn trả nợ phù hợp với kỳ hạn của nguồn vốn và khả năng trả nợ của khách hàng. Trong quý I năm 2013 phối hợp với Bộ Xây dựng ban hành, hướng dẫn Quy chế cho vay các đối tượng trên để đảm bảo sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích các khoản tín dụng này.

Dành từ 20 - 40 nghìn tỷ đồng thông qua tái cấp vốn với lãi suất hợp lý và thời hạn tối đa 10 năm tùy theo đối tượng sử dụng vốn vay để hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại của Nhà nước để phục vụ cho vay đối với các đối tượng nêu trên.

Như vậy, Chúng tôi không thấy quy định nào của pháp luật về việc người trên 55 tuổi thì không được mua nhà theo hình thức vay gói 30.000 tỷ. Bạn kiểm tra lại điều kiện vay của mình và điều kiện vay riêng của từng ngân hàng để xem xét lại, trong trường hợp bạn vẫn được hỗ trợ vay thì bạn tiến hành mua nhà như bình thường.

Trường hợp ngân hàng mà bạn dự tính vay gói 30.00 tỷ để mua nhà có điều kiện về tuổi tác, thì bạn và con gái bạn lập một văn bản thỏa thuận về việc ủy quyền cho con gái bạn đứng tên trên hợp đồng mua bán và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có công chứng. Như vậy, nếu có phát sinh xảy ra bất lợi cho bạn thì bạn có thể bảo vệ được quyền lợi của vợ chồng bạn.

5. Cha vay trả góp, con có phải chịu trách nhiệm liên đới trả không ?

Thưa luật sư! Xin chào qúy công ty. mong rằng tình huống của em sẽ được mọi người giúp đỡ. em là sinh viên đại học năm 3.hiện em đang học ở thành phố.Đầu năm 2016, bố em có vay mượn tiền ngân hàng mua xe trả góp, em chỉ biết khi có người gọi điện thoại hỏi là em có phải là con cha không? để họ xác nhận vay vốn, em trả lời có.
Em đi học trên tp, việc mua xe và vay tiền xảy ra dưới quê và em cũng không ký tên bất kì hợp đồng nào! cha em muốn mua xe,nhưng không thông qua ý kiến của mọi người trong gia đình,cho số điện thoại của mẹ và em để người ta gọi xác nhận và thành lập hồ sơ vay như có người thân đảm bảo.số tiền vay ,thủ tục lúc đó thế nào em cũng không biết. cha em công việc không ổn định, hay nhậu, và bây giờ hiện không có việc làm.em chỉ biết được số tiền vay mượn là gần 25 triệu đồng khi nhân viên bên ngân hàng gọi điện thoại cho em. họ liên lạc cha em không được nên cứ gọi điện thoại vào số máy của em. em liên lạc cha lúc được lúc không do cha đi nhậu và khóa máy, gặp được thì em nhắc chuyện tiền. bây giờ bên ngân hàng gọi điện thoại em đòi tiền, do đã gần 6-7 tháng cha em không đóng lãi vay, số tiền lên đến gần 40 triệu đồng.nhưng theo thông tin người gọi điện thoại cho em cung cấp,do cuối năm, ngân hàng hỗ trợ nên chỉ cần đóng phần vốn khoảng 25 triệu đồng. nếu không thanh toán sẽ kiện ra tòa và công an và em sẽ bị mời để làm việc, và em cũng phải chịu trách nhiệm cho cha em.
Vậy, qúy công ty cho em hỏi: 1.em có cần phải trả số tiền đó không? 2.em có cần phải lên tòa án để giải quyết vấn đề đó không? 3.hồ sơ học tập của em có bị ảnh hưởng gì không? 4.nhân viên nói rằng cha em sẽ bị phạt từ 6 đến 7 năm tù là đúng hay sai?
Em rất mong sự giúp đỡ từ qúy công ty. em chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về việc mua trả góp xe có ghi thông tin người thân là bạn thì bạn có nghĩa vụ trả tiền và có bị ảnh hưởng đến hồ sơ học tập không?

Theo như nội dung thư mà bạn trình bày, trong trường hợp của bạn theo quy định của pháp luật dân sự là trường hợp mua trả chậm, trả dần. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau về việc mua trả chậm, trả dần:

Điều 453. Mua trả chậm, trả dần
1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Với hình thức mua trả chậm, trả dần này, mặc dù bên mua chưa thanh toán hoặc thanh toán chưa hết tiền cho bên bán nhưng họ lại được nhận tài sản mua bán và có quyền đưa tài sản vào khai thác công dụng; còn bên bán đã giao vật cho bên mua nhưng họ vẫn còn quyền sở hữu đối với tài sản đã bán. Về phương diện pháp lý, đây là một dạng hợp đồng mua bán được giao kết với điều kiện bảo lưu, trì hoãn quyền sở hữu của bên bán đối với tài sản đã bán. Pháp luật công nhận quyền sở hữu của bên bán được bảo lưu cho đến khi bên mua thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ thanh toán. Trong thì gian trả chậm, trả dần, nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán (như không trả tiền, trả tiền không đầy đủ, trả không đúng hạn), bên bán có quyền đòi lại tài sản đã bán.

Như vậy, với hình thức mua trả chậm trả dần thì quyền và nghĩa vụ chỉ phát sinh giữa bên mua và bên bán, việc dùng tên và số điện thoại của bạn để xác nhận là người thân trong thủ tục mua trả góp chỉ là hình thức để xác nhận được thông tin về người này khi mua theo hình thức trả góp giúp người bán có thông tin để liên lạc với mgười mua trong những trường hợp cần thiết, việc khai và thông báo không đúng thông tin sẽ do bên mua trả góp hoàn toàn chịu trách nhiệm. Trong trường hợp này bạn chỉ cần cung cấp thông tin về cha bạn trong phạm vi bạn biết chứ không có liên quan gì đến nghĩa vụ phải trả tiền và cũng không bị ảnh hưởng đến hồ sơ học tập bạn nhé.

Thứ hai, về việc cha bạn có thể đi tù 6,7 tháng là đúng hay sai?

Trong trường hợp của cha bạn khi chưa trả tiền và không đóng lãi vay cho ngân hàng thì họ có thể kiện ra tòa. Do bạn chỉ cung cấp cho chúng tôi thông tin về việc cha bạn chưa trả nợ hình thức trả góp mà không trình bày cụ thể rằng cha bạn có trả lãi suất theo định kỳ hàng tháng hay không, và thời gian cha bạn trả lãi được bao nhiêu tháng, còn giữ lại được các biên lại trả lãi suất hay không để đưa vụ việc của cha bạn sang vụ án dân sự, cụ thể Hành vi vi phạm hợp đồng của bên vay.

Để đưa ra hành vi Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho cha bạn, thì bên ngân hàng phải chứng minh được cha bạn có đủ yếu tố cấu thành nên hành vi vi phạm này hay không như sau:

Căn cứ theo Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Bạn lưu ý thêm, để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm phải đáp ứng đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm (Khách thể của tội phạm; Chủ thể của tội pham; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm), cụ thể như sau:

Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.

3.1. Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật,ví dụ sai mục đích vay) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Như vậy, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 dấu hiệu là: (1) Người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc (nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều, tẩy xóa con số để được nhiều hơn) … ; (2) Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Thỏa mãn 2 yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

3.2. Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Như vậy, cha bạn phải cấu thành các yếu tố trên thì mới khép vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng ủy quyền bán, cho thuê nhà ở mới nhất năm 2020