Số phận của người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng bất tận để cắt nhà văn nhà thơ nói lên nỗi lòng của mình tiêu biểu trong đó là số phận của hai người phụ nữ bị và người vợ nhặt trong hai tác phẩm đặt ở hai bối cảnh khác nhau.

 

1. Số phận của người phụ nữ qua tác phẩm Vợ Nhặt và vợ chồng A Phủ: Mẫu 1

Thời đại nào số phận người phụ nữ cũng là điều khiến người cầm bút trăn trở nhiều nhất. Những trang văn viết về họ bao giờ cũng là những trang viết ám ảnh, để lại trong lòng người đọc nhiều trăn trở hơn cả đã. Qua rất lâu thời của những cô Mị, thời của những người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Nhưng câu chuyện về mỗi thân phận mỗi cảnh đời của người xưa vẫn làm ta khôn nguôi.

Mị, người vợ nhặt hai con người ấy là hai số phận có thể nói là cùng khổ trong xã hội cũ. Mỗi người một cảnh ngộ riêng nhưng số phận của họ đều chung một màu đen.

Là một cô gái lao động miền núi ở Mị hội tụ tất cả những nét đẹp của một thiếu nữ xinh đẹp, tài giỏi, đảm đang, hiếu thảo.Chỉ bằng vài chi tiết nhỏ Tô Hoài đã khiến chúng ta phải say mê vẻ đẹp của bông hoa núi rừng, huống gì những thanh niên trai bản đã bị bị hút hồn ngày đêm thổi sáo cho Mị. nhưng điều cay đắng nhất là đóa hoa bản Mèo lại không được ném pao chọn người yêu, không được tìm người yêu trong phiên chợ tình. Mị sớm chịu cảnh làm dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Món nợ truyền kiếp từ đời cha mẹ. Nay đứa con gái phải gánh trả bằng cả hạnh phúc, tuổi trẻ của mình. Mị về làm dâu nhưng thực chất là làm người ở cho nhà Thống Lý, lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi gánh nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Câu văn của Tô Hoài vừa giúp chúng ta hình dung sự vất vả, vừa cho thấy được những tâm trạng của nhân vật. Công việc cực nhọc không làm Mị nguôi đi những cay đắng. Trong cuộc đời Mị nín nặng, mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Bao nhiêu ngày ở nhà thống lý là bấy nhiêu ngày Mị cam chịu sống trong địa ngục trần gian. Điều đáng thương nhất là sự áp bức của chế độ phong kiến và thần quyền miền núi đã làm Mị tê liệt đi sức phản kháng, sự tồn tại của Mị được đánh dấu bằng các công việc lặp đi lặp lại. Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp và dù lúc đi hái củi, lúc bưng ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi.

Người vợ nhặt trong câu chuyện của Kim Lân không phải chịu cảnh áp bức bóc lột của chế độ phong kiến và thần quyền miền núi nhưng kiếp sống ấy bị chính bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật chà đạp. Trong chuyện không thể xuất hiện bóng dáng của những tên đế quốc đó, nhưng sự hoành hành của nạn đói là bằng chứng tố cáo đanh thép nhất về tội ác của chúng. Cái đói làm người chết như ngả rạ, người sống xanh xám như những bóng ma. Cái đói làm chị vợ nhặt gầy đét. Trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn đôi mắt trũng hoáy. Cái đói làm chị tối mắt trước cái ăn, chấp nhận bỏ lại thể diện khi ăn một chặp bốn bát bánh đúc. Khủng khiếp hơn cái đói khiến chị liều lĩnh chấp nhận theo không anh cu Tràng, chẳng biết anh Tràng là người như thế nào. Thân phận con người tưởng chừng như không thể lẻ rúng hơn được nữa. Có lẽ Thị là hình ảnh thê thảm nhất của người phụ nữ trong văn học Việt Nam hiện đại.

Hai nhân vật với hai số phận, hai hoàn cảnh, hai thời đại khác nhau nhưng ở họ luôn hiện lên là những người phụ nữ cam chịu, khổ cực, chịu thương, chịu khó. Người Vợ Nhặt dù cái đói đã làm mờ nhạt đi những vẻ đẹp trong tâm hồn chị nhưng ẩn sâu trong đó vẫn là những nét đẹp, những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Đối với Mị, dù sống trong hoàn cảnh cùng cực, bị chà đạp bởi thể xác và tâm hồn tưởng chừng như mất hết ý thức làm người, không còn thiết tha với cuộc sống. Nhưng ẩn sâu trong tâm hồn cô gái ấy chính là sức sống tiềm tàng luôn được khơi dậy lên bất kỳ lúc nào.

Qua hai tác phẩm, ta thấy được số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ hiện lên trong các trang văn luôn khổ cực, cam chịu, nhẫn nhục. Nhưng ẩn sâu trong họ vẫn là những nét đẹp mang đậm đà bản sắc người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, hiền hậu, thủy chung, chăm chỉ, những ước mơ, khát vọng luôn hiện hữu trong họ.

>> Xem thêm: So sánh kết thúc truyện Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ hay nhất

 

2. Số phận người phụ nữ trong hai tác phẩm Vợ Nhặt và Vợ Chồng A Phủ: Mẫu 2

Số phận người phụ nữ luôn là đề tài nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà văn, nhà thơ. Nó trở thành đề tài nhân văn, nhân đạo vô cùng sâu sắc. Tạo ra nhiều tác phẩm bất hủ như tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân và Vợ Chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.

Trong hai tác phẩm này, ta thấy Mị và bà cụ Tứ cũng như vợ của Tràng đều là những người phụ nữ khốn khổ, chịu nhiều khó khăn, tai ương trong cuộc sống. Hoàn cảnh sống khó khăn đã khiến cho những người phụ nữ sống thu mình, chịu đựng tới mức chai lì và mất dần cảm xúc

Trong tác phẩm Vợ Nhặt, hình ảnh vợ anh cu Tràng hiện lên chanh chua, là người không có lòng tự trọng, chỉ vì sự đói khổ mà cô có thể gạ gẫm người khác mời ăn rồi ngồi xuống ăn hết một chặp bốn bát bánh đúc một cách ngon lành. Rồi những lời nói bông đùa mà theo người ta về nhà làm vợ không cần cưới xin.

Chính sự đói khổ đã khiến con người trở nên không còn lòng tự trọng, không còn sự lựa chọn nào khác nên người phụ nữ trở nên như vậy. Họ bị tước đoạt mọi quyền sống, quyền hạnh phúc, sự lạc hậu, nghèo đói đã khiến cho người phụ nữ thay đổi, không còn giữ được phẩm hạnh, lòng tự trọng của mình. Nhưng tự trong sâu thẳm tâm hồn vẫn mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc, một gia đình đúng nghĩa.

 Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, Mị là nhân vật vô cùng đáng thương. Cô vì món nợ của gia đình với nhà thống lý Pá Tra mà trở thành con dâu gạt nợ của họ. Phải sống một cuộc sống câm lặng như con rùa rúc đầu trong xó cửa., Hết ngày này qua tháng khác cam chịu cảnh đè nén đánh đập, làm việc như con trâu, con bò trong nhà họ. Tõi con trâu khi làm việc còn có buổi tối được nghỉ ngơi. Nhưng số phận Mị sống trong nhà Thống Lý thì không có giây phút nào được nghỉ.

Mị nhiều lần định ăn lá ngón để kết thúc số phận mình, nhưng cô lại nghĩ tới những người thân của mình. Nếu cô chết đi thì gia đình nhà Thống Lý sẽ ép cha mẹ cô không thể nào sống nổi trong bản này. Chính vì thương gia đình mà bị cam chịu cuộc sống nô lệ, bị đày đọa cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Nhưng rồi mọi chuyện đã thay đổi Mị, khi bị nghe tiếng sáo gọi bạn ở chợ tình mùa xuân. Tiếng nhạc đó đã thức tỉnh tâm hồn tưởng như đã chết trong Mị từ lâu, khiến Mị thấy mình còn trẻ lắm, Mị muốn đi chơi. Nhiều phụ nữ có chồng, có con vẫn đi chơi chợ tình mùa xuân có sao đâu. Mị muốn đi chơi, chính sự chuyển biến tâm lý đó của Mị khiến cô bị trả giá. Cô bị A Sử trói vào cột nhà, đánh tới tấp. Những trận đòn đó đã thức tỉnh ý thức làm người trong Mị.

Hai người phụ nữ với hai số phận khác nhau, đặt trong hai hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng đều toát lên những phẩm chất cao đẹp, cùng khát vọng sống trường tồn, mãnh liệt. Đồng thời đó cũng là những lời lên án đối với xã hội cũ.

Trên đây là một số mẫu cảm nhận về hình ảnh người phụ nữ trong hai tác phẩm Vợ Nhặt và Vợ Chồng A Phủ luật Minh Khuê xin gửi tới bạn đọc. Hy vọng đó là những tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Xem thêm: Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ chọn lọc hay nhất