1. Thế nào là nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh và không đích danh?
(1) Nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh
Nuôi con nuôi với yếu tố nước ngoài đích danh được hiểu là việc xác định và thiết lập mối quan hệ cha mẹ con với người được chỉ định trước đó là đối tượng nhận con nuôi. Điều này có nghĩa là người được chỉ định rõ trước đó là ai, và cụ thể, người này sẽ đảm nhận vai trò cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột, anh, chị, hoặc em ruột của đứa trẻ. Đối tượng nhận con nuôi cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, bao gồm việc đang ở nước ngoài làm việc, hoặc là người nước ngoài đã hoặc đang học tập tại Việt Nam ít nhất 01 năm. Ngoài ra, những người được nhận con nuôi cũng có thể là những đối tượng đặc biệt như người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS, hoặc mắc các bệnh hiểm nghèo khác, theo quy định tại Điều 3 của Nghị định 19/2011/NĐ-CP.
(2) Nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không đích danh
Nuôi con nuôi không đích danh với yếu tố nước ngoài được hiểu là quá trình thiết lập mối quan hệ cha mẹ con mà không nằm trong các trường hợp cụ thể của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh như đã được mô tả trước đó.
Ví dụ, khi ông A, người có quốc tịch nước ngoài, muốn nhận con nuôi và đứa trẻ B là một trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, trong trường hợp này, Bé B trở thành con nuôi đích danh và hành động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được thực hiện.
2. So sánh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh và không đích danh
Việc chăm sóc và nuôi dưỡng con nuôi với yếu tố nước ngoài đặt ra những thách thức đặc biệt trong việc xây dựng mối quan hệ gia đình giữa người nhận con nuôi và người được nhận con nuôi. Người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài có thể bao gồm người nước ngoài hoặc người Việt Nam thường trú ở nước ngoài, cũng như người nước ngoài thường trú tại Việt Nam. Đối tượng được nhận làm con nuôi có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài, và quá trình này có thể diễn ra ở Việt Nam hoặc giữa các người Việt Nam tại nước ngoài.
Hiện nay, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được phân loại thành hai dạng chính: nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh, và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không đích danh.
Để nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh hoặc không đích danh, người muốn nhận con nuôi cần chuẩn bị một hồ sơ và thực hiện các thủ tục nhất định. Dưới đây là danh sách hồ sơ cần chuẩn bị:
(1) Hồ sơ của người nhận con nuôi:
- Đơn xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài (áp dụng cho trường hợp nhận con riêng, cháu ruột, song ngữ Việt-Anh).
- Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế.
- Văn bản cho phép được nhận con nuôi tại Việt Nam.
- Bản điều tra về tâm lý và gia đình.
- Văn bản xác nhận về tình trạng sức khỏe.
- Văn bản xác nhận về thu nhập và tài sản.
- Phiếu lý lịch tư pháp.
- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân:
+ Trường hợp người nhận con nuôi là cặp vợ chồng: Giấy chứng nhận kết hôn.
+ Trường hợp người nhận con nuôi là người độc thân: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
- Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh, bao gồm:
+ Bản sao giấy chứng nhận kết hôn của cha dượng hoặc mẹ kế.
+ Giấy tờ, tài liệu để chứng minh mối quan hệ ruột thịt.
Lưu ý: Các giấy tờ nước ngoài cần được hợp pháp hoá tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hoá theo định ước quốc tế. Giấy tờ cần được dịch ra tiếng Việt và công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam.
(2) Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi:
- Giấy khai sinh.
- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên.
- Hai ảnh toàn thân, chụp không quá 6 tháng.
- Giấy chứng tử hoặc quyết định của Tòa án về tình trạng cha mẹ đẻ.
- Văn bản lấy ý kiến đồng ý từ cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em từ 9 tuổi trở lên.
- Văn bản của Sở Tư pháp xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài.
- Văn bản về đặc điểm, sở thích của trẻ em.
Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi cần nộp tại Sở Tư pháp (03 bộ) và Bộ Tư pháp (01 bản chụp) (Vụ Con nuôi).
Lưu ý: Trong trường hợp không thể xác minh thông tin cư trú qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, người nộp hồ sơ có thể cung cấp các giấy tờ khác chứng minh thông tin về cư trú.
Về nơi nộp hồ sơ nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài:
- Trong trường hợp xin nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh, người nhận con nuôi có thể nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu điện, sử dụng hình thức gửi bảo đảm. Hoặc nếu có nhu cầu, người nhận con nuôi cũng có thể ủy quyền bằng văn bản, được chứng thực hoặc công chứng, và gửi đến Cục Con nuôi. Trong trường hợp ủy quyền, chỉ những người có quan hệ họ hàng hoặc thân thích và đang thường trú tại Việt Nam mới được phép được ủy quyền.
- Đối với việc xin nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài không đích danh, người nhận con nuôi cần nộp một bộ hồ sơ trực tiếp tại Bộ Tư pháp hoặc tại Cơ quan đại diện Ngoại giao hoặc Cơ quan Lãnh sự của quốc gia đó tại Việt Nam. Trong trường hợp nuôi con tại quốc gia mà Việt Nam có ký kết và là thành viên của các điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi, người nhận con nuôi có thể nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi thông qua tổ chức con nuôi được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.
3. Điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Khoản 3 của Điều 4 trong Luật Nuôi con nuôi 2010 rõ ràng quy định: "Chỉ cho làm con nuôi người nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế trong nước." Do đó, trường hợp đứa trẻ hiện tại có cha mẹ đẻ tại Việt Nam, quá trình nhận nuôi con nuôi sẽ được giải quyết dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền của trẻ em sống trong môi trường gia đình gốc - gia đình của những người có quan hệ huyết thống.
Người được nhận làm con nuôi cần tuân thủ các điều kiện theo Điều 8 của Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:
- Trẻ em dưới 16 tuổi.
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định, bao gồm việc được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
- Mỗi người chỉ có thể làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.
- Nhà nước khuyến khích việc nhận nuôi trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác.
Người nhận con nuôi cũng phải đáp ứng các điều kiện theo Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:
- Có đủ năng lực hành vi dân sự.
- Độ tuổi hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.
- Đảm bảo điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.
- Có tư cách đạo đức tốt.
Tuy nhiên, những người không đủ điều kiện sau đây sẽ không được nhận con nuôi:
- Đang bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.
- Đang chấp hành hình phạt tù.
- Chưa được xóa án tích về các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ người thân; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Về mặt pháp lý, sau ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ sẽ không còn quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, đại diện theo pháp luật đối với con đã được nhận làm con nuôi, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên.
Bài viết liên quan: Nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài thì làm như thế nào?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!