Ở góc độ cơ bản nhất có thể phân tích như sau:
Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp người phạm tội đã thực hiện xong những hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng hậu quả chưa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng chưa đạt được như mong muốn của người phạm tội.
Tội phạm hoàn thành là trường hợp phạm tội đã thỏa mãn các dấu hiệu trong cấu thành của một tội phạm cụ thể.
• Giống nhau:
+ Đều được xác định là các giai đoạn trong tiến trình thực hiện tội phạm của người phạm tội.
+ Cả hai trường hợp người phạm tội đều đã thực hiện đầy đủ các hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể.
+ Người thực hiện hành vi đều phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Khác nhau:
+ Trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành chỉ có thể xảy ra dưới hình thức lỗi cô ý trực tiếp; còn trường hợp tội phạm hoàn thành còn có thể đặt ra ở cả hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý.
+ Trường hợp phạm tội chưa đạt hậu quả của tội phạm trong mọi trường hợp chưa xảy ra, hoặc xảy ra không như mong muốn của người phạm tội và chưa đủ dấu hiệu để hoàn thành; còn tội phạm hoàn thành thì có trường hợp đạt được kết quả mong muôh theo ý định của người phạm tội, có trường hợp thì chưa đạt được mục đích đề ra như ban đầu, tùy thuộc vào cấu thành của tội phạm đó là cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức.
* Ngoài ra còn có điểm khác trong việc xác định trách nhiệm hình sự giữa các trường hợp này, trách nhiệm hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt được xác định theo quy định tại Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015.
>> Xem thêm: Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và tội phạm hoàn thành?
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết nội dung trên như sau:
Trong thực tế thì hoạt động phạm tội cũng như bất kỳ một hoạt động nào khác của con người sẽ đều diễn ra dưới một quá trình nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định. Khi cố ý thực hiện tội phạm thì bao giờ người phạm tội cũng mong muốn thực hiện cho trọn vẹn quá trình đó để đạt được kết quả mong muốn. Nhưng trong thực tế lại có những trường hợp vì nuyên nhân ngoài ý muốn mà họ không thể thực hiện hoặc thực hiện không thành công mong muốn, ý định phạm tội của mình, họ sẽ phải dừng ở những thời điểm khác nhau. Tuy nhiên không phải vì thế mà họ sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình. Do đó tùy từng mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra ở trong từng giai đoạn và tính nguy hiểm của từng trường hợp thì Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017 đã chia ra rõ mức độ phạm tội thành ba giai đoạn riêng biệt đó là: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
Theo đó các giai đoạn thực hiện tội phạm được hiểu là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm và bao gồm ba giai đoạn kể trên. Trong đó giai đoạn phạm tội chưa đạt lại được chia làm hai dạng là phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành. Không ít người sẽ nhầm lẫn hai giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và tội phạm hoàn thành với nhau trên thực tế khi xét xử cũng như khi nghiên cứu học thuật. Do vậy tai bài viết này Luật Minh Khuê sẽ phân tích một cách cụ thể nhất về hai giai đoạn nêu trên và so sánh chúng để chỉ ra điểm tương đồng cũng như sự khác biệt của mỗi giai đoạn thực hiện tội phạm:
1. Khái quát chung về phạm tội chưa đạt
1.1. Phân tích chung về giai đoạn phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt được hiểu là người thực hiện hành vi phạm tội cố ý thực hiện tội phạm đến cùng nhưng lại không thể thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muôn của người phạm tội. Lúc này họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Để nhận biết hành vi đó có thuộc giai đoạn phạm tội chưa đạt hay không thì chúng ta cần căn cứ vào ba dấu hiệu xác định sau đây:
Thứ nhất là người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm. Đây chính là dấu hiệu để phân biệt với giai đoạn trước đó là "chuẩn bị phạm tội". Sự bắt đầu này sẽ thể hiện ở chỗ người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Ví dụ về tội hiếp dâm thì người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi dùng vũ lực lên nạn nhân như tát, trói, đấm,... là những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015). Và đó cũng được coi là đã bắt đầu thực hiện tội phạm khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi đi liền trước hành vi khách quan. Đó là những hành vi về mặt khách quan và chủ quan đã thể hiện rằng đó là sự bắt đầu của hành vi khách quan và ngay tiếp sau đó hành vi khách quan sẽ xảy ra. Ví dụ như hành vi nhặt dao để đâm, chém; hành vi lắp đạn để bắn trong trường hợp phạm tội giết người được coi là hành vi đi liền trước. Những hành vi này chưa phải là hành vi khách quan, chưa tước đoạt tính mạng của người khác đối với tội giết người nhưng đó chính là sự bắt đầu của hành vi khách quan, và kế tiếp ngay sau đó sẽ là hành vi khách quan xảy ra. Những hành vi đi liền trước như vậy tuy thể hiện sự chuẩn bị nhưng nó rất gần với hành vi khách quan, không tách ra được nên cũng được coi là hành vi thực hiện tội phạm
Thứ hai là người phạm tội xét về mặt pháp lý thì chưa thực hiện được tội phạm đến cùng. Tức là hành vi của họ chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Những trường hợp này sẽ xảy ra ở một trong những dạng thể hiện sau đây của hành vi phạm tội chưa đạt:
+ Dạng thứ nhất là người phạm tội chưa thực hiện được hành vi khách quan nhưng đã bắt đầu thực hiện hành vi đi liền tước (có thể gọi là hành vi chủ quan). Ví dụ như nhặt dao để đâm chém ngay sau đó, lắp đạn, lắp cung tên để bắn... trong trường hợp phạm tội giết người
+ Dạng thứ hai là người phạm tội đã thực hiện được hành vu khách quan nhưng chưa thực hiện hết các hành vi khách qua được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm. Một ví dụ rõ ràng nhất chính là tội hiếp dâm có cấu thành rất nhiều hành vi khách quan trong mặt khách quan của tội phạm này. Nếu người phạm tội mới chỉ thực hiện hành vi trói, tát, đấm, xô ngã nạn nhân, xé quần áo của nạn nhân mà chưa thực hiện được hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác thì sẽ thuộc dạng thứ hai này.
+ Dạng thứ ba là chủ thể đã thực hiện hết các hành vi khách quan nhưng hậu quả chưa xảy ra, trường hợp này chỉ xảy ra đối với loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất. Ví dụ như khi vừa thực hiện hành vi phá khóa cửa nhà để trộm xe máy thì người phạm tội đã bị phát hiện và bị bắt giữ.
Thứ ba là giai đoạn phạm tội chưa đạt chỉ đặt ra đối với tội phạm có lỗi cố ý trực tiếp và người phạm tội không thể thực hiện tội phạm đến cùng là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ. Tức là người phạm tội hoàn toàn nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình đang làm, nhận thức được hậu quả khôn lường từ hành vi đó sẽ xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Vì vậy khi họ bắt tay vào thực hiện một hành vi nào đó có liên quan đến tội phạm, họ ý thức được rằng mình đang hướng đến việc thực hiện tội phạm đến cùng nhằm đạt được những gì mình đặt ra khi phạm tội. Việc họ không thực hiện được tội phạm đến cùng không phải xuất phát từ mong muốn của họ mà chính vì những trở ngại khách quan ngăn cản họ. Một số nguyên nhân khách quan có thể kể đến như nạn nhân hoặc người bị hại đã chống cự lại được hoặc đã tránh được; người khác phát hiện ra hoặc ngăn chặn được; hay những trở ngại khách quan diễn ra do chính công cụ thực hiện tội phạm của họ như bắn nhưng đạn không nổ, dùng thuốc độc để đầu độc nhưng thuốc giả hoặc thuốc không đủ lượng nên nạn nhân không chết như ý muốn....
1.2. Phân tích chung về phạm tội chưa đạt đã hoàn thành
Trong khoa học pháp lý hình sư, căn cứ vào mục đích thưc hiện hành vi phạm tội, các nhà nghiên cứu chia phạm tội chưa đạt thành hai dạng là phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành. Trong phạm vi bài viết này, Luật Minh Khuê sẽ chỉ phân tích về dạng phạm tội chưa đạt đã hoàn thành để nhằm so sánh với giai đoạn tội phạm hoàn thành.
Theo đó phạm tội chưa đạt đã hoàn thành được hiểu là người phạm tội đã thực hiện được những hành vi cần thiết mà họ cho rằng như vậy là đủ để đạt được mục đích (hậu quả), nhưng hậu quả lại không xảy ra do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn. Nêu một ví dụ để độc giả dễ hiểu hơn đó là vẫn đối với tội giết người, mặt khách quan đòi hỏi phải có hành vi tước đoạt mạng sống của người khác một cách trái pháp luật và hậu quả chính là phải có người chết từ hành vi đó gât nên. Nếu chỉ có hành vi tước đoạt sinh mạng một cách trái pháp luật (đầu độc, bắn, đấm, đâm, chém.... vào những vùng trên cơ thể nhằm dẫn đến chết người) nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra (do đầu đầu chưa đủ liều, hoặc đầu độc thuốc giả, hoặc bắn không chết do đã có người phát hiện đưa đi cấp cứu kịp thời) thì được xem là phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.
Việc xác định giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là một điều hết sức quan trọng trong việc xem xét một người có phải là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội hay không. Bởi điều kiện của một người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trước hết chỉ xảy ra đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Nếu một người đang ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành thì không còn cơ hội để thực hiện việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nữa. Bởi vì chưa đạt đã hoàn thành về bản chất sẽ nguy hiểm hơn chưa đạt chưa hoàn thành.
2. Khái quát chung về tội phạm hoàn thành
Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Điều đó có nghĩa là khi một tội phạm hoàn thành thì hành vi phạm tội đã có đủ các dấu hiệu nói lên được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó. Khái niệm tội phạm hoàn thành được hiểu theo nghĩa hoàn thành về mặt pháp lý, tức là tội phạm đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Một tội phạm khi đã hoàn thành về mặt pháp lý, có thể dừng lại và không xảy ra nữa trong thực tế nhưng cũng có thể tiếp tục xảy ra. Trái lại một tội phạm có thể tuy đã dừng lại nhưng chưa hoàn thành.
Như vậy việc quy định thời điểm hoàn thành của từng tội phạm được thực hiện qua việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Căn cứ vào định nghĩa chung về tội phạm hoàn thành và dựa vào đặc điểm cấu trúc của các loại cấu thành tội phạm, có thể rút ra được kết luận về thời điểm hoàn thành của các loại tội có cấu thành vật chất, có cấu thành hình thức và cấu thành cắt xén như sau:
+ Đối với tội có cấu thành vật chất: thời điểm tội phạm hoàn thành là khi hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội theo quy định tại điều luật về tội phạm cụ thể. Đăc điểm của trường hợp hoàn thành này là người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, khách thể đã bị xâm phạm. Hậu quả của hành vi phạm tội đã xảy ra theo dấu hiệu được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, hậu quả nguy hiểm đã xảy ra la dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Ví dụ tội giết người là tội có cấu thành tội phạm vật chất nên tội phạm này sẽ hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra
+ Đối với tội phạm có cấu thành hình thức thì thời điểm tội phạm hoàn thành là khi người phạm tội thực hiện xong hết các hành vi phạm tội quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, không kể đến việc ho đã gây ra hay chưa gây ra hậu quả, tác hại. Ví dụ tội hiếp dâm được coi là hoàn thành khi chủ thể thực hiện các hành vi nhằm giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác mà không cần biết kết quả của nó ra sao. Hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản sẽ hoàn thành khi thực hiện xong hành vi bắt cóc và hành vi tống tiền, còn không quan tâm đến có chiếm đoạt được tài sản hay chưa.
+ Đối với tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén sẽ được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã có những hoạt động bất kỳ nhằm thực hiện hành vi phạm tội
Cần hết sức lưu ý một vấn đề là thời điểm tội phạm hoàn thành cần phải được phân biệt với thời điểm tội phạm kết thúc. Theo đó tội phạm kết thúc là thời điểm hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt trên thực tế. Thời điểm kết thúc và thời điểm hoàn thành trên thực tế có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau. Mọi hành vi phạm tội đều có thể dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tôi hoặc phạm tội chưa đạt và ngược lại, một tội phạm tuy đã hoàn thành nhưng vẫn có thể tiếp tục xảy ra.
Việc phân biệt thời điểm tội phạm kết thúc và thời điểm tội phạm hoàn thành có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với những trường hợp giữa thời điểm tội phạm hoàn thành và thời điểm tội phạm kết thúc có khoảng cách như ở những trường hợp tội kéo dài hoặc tội liên tục thì việc tính thời hạn phải kể từ ngày tôi phạm kết thúc. Ngoài ra thời điểm kết thúc của một hành vi phạm tội cũng có ý nghĩa trong việc xác định có đồng phạm hay không? Nếu trên thực tế, hành vi phạm tội đã kết thúc thì không thể có đồng phạm, nhưng nếu hành vi phạm tội chỉ mới hoàn thành mà chưa kết thúc thì vấn có thể xảy ra đồng phạm.
3. So sánh phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và tội phạm hoàn thành
Và sau khi đã phân tích chi tiết về hai giai đoạn trong các giai đoạn thực hiện tội phạm nêu trên thì tại phần này, Luật Minh Khuê sẽ đi đến so sánh các điểm tương đồng và khác biệt của giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và tội phạm hoàn thành nhằm giúp các độc giả hiểu rõ về hai giai đoạn này hơn:
3.1. Giống nhau
Điểm giống nhau thứ nhất dễ dàng nhìn thấy nhất chính là đây đều thuộc các giai đoạn trong tiến trình thực hiện tội phạm của người phạm tội. Thứ hai là cả hai giai đoạn này đều diễn ra ở tội phạm có lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội biết rõ về hành vi phạm tội của mình cũng như hậu quả xảy ra nhưng đều mong muốn cho hậu quả xảy ra. Tiếp theo là trong cả hai giai đoạn có thể thấy người phạm tội đều đã thực hiện đầy đủ các hành vi khách quan được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm đó. Và cuối cùng thì dù ở giai đoạn nào, người phạm tội cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự.
3.2. Khác nhau
Điểm khác nhau thứ nhất cần xét đến chính là mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành thì chắc chắn chỉ có thể xảy ra dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Trong khi đó thì với giai đoạn tội phạm hoàn thành thì có thể xảy ra dưới nhiều hình thức hơn như lỗi cố ý và lỗi vô ý
Thứ hai là trường hợp phạm tội chưa đạt hậu quả của tội phạm trong mọi trường hợp chưa xảy ra, hoặc xảy ra không như mong muốn của người phạm tội và chưa đủ dấu hiệu để hoàn thành; còn tội phạm hoàn thành thì có trường hợp đạt được kết quả mong muôh theo ý định của người phạm tội, có trường hợp thì chưa đạt được mục đích đề ra như ban đầu, tùy thuộc vào cấu thành của tội phạm đó là cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức.
Và cuối cùng là việc xác định trách nhiệm hình sự ở hai giai đoạn này là khác nhau. Theo đó:
+ Đối với phạm tội chưa đạt đã hoàn thành thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm. Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định. Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì sẽ tùy thuộc từng độ tuổi mà mức phạt tù cụ thể sẽ khác nhau.
+ Còn đối với tội phạm hoàn thành thì người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về loại tội phạm mà mình đã thực hiện
Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!