1. Tội phạm hoàn thành
Các tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự đều được đặt tội danh và được mô tả bằng các dấu hiệu đặc trưng. Đó là các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và những dấu hiệu này tạo thành cấu thành tội phạm của mỗi tội danh. Khi hành vi cụ thể xảy ra thoả mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi đó được xác định đã phạm tội mà cấu thành tội phạm này phản ánh như phạm tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự) hay phạm tội vô ý làm chết người (Điều 128 Bộ luật Hình sự) v.v.. và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện. Tuy nhiên, không phải chỉ khi hành vi thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành đó mới được xác định là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm đó. Đối với các tội có lỗi cố ý trực tiếp, có thể có trường hợp hành vi tuy chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng chủ thể thực hiện hành vi này vẫn bị xác định là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự. Để phân biệt giữa trường hợp hành vi phạm tội thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với trường hợp chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm như vậy, luật hình sự có các khái niệm: Tội phạm hoàn thành, phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội. Trong đó, chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được gọi chung là tội phạm chưa hoàn thành.
Tội phạm hoàn thành là trường hợp tội phạm đã thỏa mãn các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm. Đặc điểm của tội phạm hoàn thành là: Đã có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể quy định trong Bộ luật Hình sự, các dấu hiệu đó là dấu hiệu điển hình phản ánh bản chất của tội phạm, các dấu hiệu đó đều là dấu hiệu bắt buộc.
>> Xem thêm: Tội phạm hoàn thành là gì? Ví dụ về tội phạm hoàn thành
2. Đặc điểm của tội phạm hoàn thành
Cần hiểu đặc điểm hoàn thành là “hoàn thành” về mặt pháp lý vì hành vi đã thoả mãn tất cả các dấu hiệu pháp lý của tội phạm; “hoàn thành” ở đây không gắn với mục đích phạm tội của người phạm tội. Với quan niệm về tội phạm hoàn thành như vậy, luật hình sự Việt Nam khẳng định: Thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa. Khái niệm tội phạm hoàn thành không dùng để chỉ thời điểm người phạm tội đạt được mục đích của mình, khi tội phạm hoàn thành thì cũng có thể người phạm tội đã đạt được mục đích của mình nhưng cũng có thể chưa đạt được mục đích đó. Nói tội phạm hoàn thành là hoàn thành về mặt pháp lý – tức tội phạm đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Tội phạm khi đã hoàn thành về mặt pháp lí, có thể cũng dừng lại không xảy ra nữa trong thực tế nhưng cũng có thể vẫn còn tiếp tục xảy ra. Ngược lại, tội phạm tuy đã dừng lại nhưng có thể chưa hoàn thành vì chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm.
Trong thực tiễn áp dụng, khi xác định trường hợp phạm tội cố ý cụ thể là đã hoàn thành hay chưa, chỉ cần kiểm tra hành vi phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hay chưa. Sẽ là trường hợp tội phạm hoàn thành nếu hành vi phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và ngược lại sẽ là trường hợp tội phạm chưa hoàn thành nếu hành vi phạm tội chưa thoả mãn hết các dấu hiệu (thuộc mặt khách quan của tội phạm) của cấu thành tội phạm. (Trong trường hợp tội phạm hoàn thành và trong trường hợp tội phạm chưa hoàn thành, lỗi cũng như các dấu hiệu khác thuộc mặt chủ quan của tội phạm là như nhau cho nên việc xác định tội phạm hoàn thành chỉ liên quan đến các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm)
Như vậy, việc quy định thời điểm hoàn thành của từng tội phạm được thực hiện qua việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Thời điểm hoàn thành sớm hay muộn là tuỳ thuộc vào việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, nhưng việc đưa những dấu hiệu nào vào cấu thành tội phạm không phải là tùy ý thích chủ quan của các nhà làm luật mà phụ thuộc vào những yếu tố khách quan như được trình bày trong Chương IV. Những dấu hiệu đó phải phản ánh được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đủ cho phép phân biệt với tội phạm khác cũng như với trường hợp chưa phải là tội phạm và đảm bảo thời điểm hoàn thành của tội phạm phù hợp với yêu cầu chống tội phạm cũng như với đặc điểm của tội phạm.
3. Thời điểm xác định tội phạm hoàn thành
Căn cứ vào định nghĩa chung về tội phạm hoàn thành và dựa vào đặc điểm cấu trúc của các loại cấu thành tội phạm, có thể rút ra được kết luận về thời điểm hoàn thành của các tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, có cấu thành tội phạm hình thức và có cấu thành tội phạm cắt xén như sau:
- Tội phạm cấu thành vật chất
Tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hậu quả của tội phạm đã xảy ra vì trong cấu thành tội phạm vật chất có dấu hiệu hậu quả thiệt hại. Ví dụ: Tội giết người là tội có cấu thành tội phạm vật chất nên tội này hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra.
- Tội phạm cấu thành hình thức
Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm đã được thực hiện vì trong cấu thành tội phạm hình thức không có dấu hiệu hậu quả thiệt hại mà chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan. Ở những tội phạm này, dấu hiệu hành vi khách quan có thể chỉ là một hành vi như ở tội cướp tài sản (dùng vũ lực hoặc…) nhưng cũng có thể bao gồm nhiều hành vi khác nhau như tội hiếp dâm (dùng vũ lực hoặc… và giao cấu…). Trong trường hợp dấu hiệu hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi khác nhau như vậy, tội phạm được xác định là tội phạm hoàn thành khi những hành vi này đều đã được thực hiện. (Về kỹ thuật mô tả dấu hiệu hành vi trong cấu thành tội phạm, xem: Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015, tr. 188 và các trang tiếp theo)
- Tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén
Tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hành vi bất kì (hoạt động) hướng tới thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại được mô tả trong cấu thành tội phạm . Như vậy, đối với tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén chỉ có tội phạm hoàn thành vì khi chủ thể thực hiện hành vi bất kỳ hướng tới hành vi được xác định thì hành vi của họ đã thoả mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cắt xén. (Về dấu hiệu hành vi trong cấu thành tội phạm cắt xén, xem: Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015, tr.191 và các trang tiếp theo)
4. Một số lưu ý khi xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm
Khi xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm, cần chú ý những căn cứ sau:
+ Căn cứ vào tính chất, tầm quan trọng của khách thể, yêu cầu bảo vệ đối với từng loại khách thể.
+ Căn cứ vào đặc điểm của từng loại tội phạm: tội có cấu thành vật chất hay tội có cấu thành hình thức.
Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, không kể họ đã gây ra hoặc chưa gây ra hậu quả tác hại, điển hình là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đe dọa giết người, tội cướp tài sản...v.v
Tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả tác hại theo quy định của pháp luật về tội phạm cụ thể. Đặc điểm của trường hợp hoàn thành này là người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, khách thể đã bị xâm phạm; hậu quả tác hại của hành vi phạm tội đã xảy ra theo quy định của cấu thành tội phạm, hậu quả tác hại là dấu hiệu bắt buộc.
* Ngoài căn cứ xác định thời điểm hoàn thành phải đặc biệt chú ý các điểm sau đây:
- Thời điểm hoàn thành của tội phạm có thể không trùng với mục đích của tội phạm.
- Thời điểm hoàn thành của tội phạm không đồng nghĩa với tội phạm kết thúc hoặc tội phạm tạm dừng.
- Thực tiễn cho thấy có trường hợp tội phạm chưa đạt nhưng đã hoàn thành.
* Tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc khác nhau như sau:
Tội phạm hoàn thành chưa hẳn đã kết thúc, ngược lại, tội phạm kết thúc chưa hẳn đã hoàn thành.
Tội phạm kết chúc là thời điểm hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt, người phạm tội không thực hiện hành vi phạm tội nữa.
5. Phân biệt tội phạm hòa thành và tội phạm chưa thành thành
Pháp luật hình sự tại các nước trên thế giới và tại Việt Nam đa phần đều phân biệt các giai đoạn thực hiện tội phạm. Cụ thể, pháp luật hình sự Việt Nam đã ghi nhận trong quá trình thực hiện tội phạm do lỗi cố ý bao gồm các giai đoạn sau: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
“Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thoả mãn tất cả dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm”.
Phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 15 BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt”.
Tội phạm hoàn thành như đã trình bày được dùng để phân biệt với tội phạm chưa hoàn thành ở các tội cố ý trực tiếp. Ở loại tội phạm này, cả hai trường hợp - tội phạm hoàn thành và tội phạm chưa hoàn thành đều bị coi là trường hợp phạm tội.
Đối với các tội cố ý gián tiếp và tội vô ý, khái niệm tội phạm hoàn thành cũng có thể được sử dụng. Tuy nhiên, việc sử dụng này không có ý nghĩa nên không cần thiết vì ở các tội cố ý gián tiếp và tội vô ý chí có tội phạm hoàn thành. Một hành vi xảy ra trong thực tế đã được xác định là tội cố ý gián tiếp hoặc tội vô ý thì luôn luôn có nghĩa là tội phạm hoàn thành.
Với cách hiểu tội phạm hoàn thành như trình bày, mỗi quy định về tội phạm cụ thể trong Bộ luật Hình sự hoặc trong luật hình sự đều là mô tả trường hợp tội phạm hoàn thành của một tội cụ thể. Do vậy, trong Bộ luật Hình sự hoặc trong luật hình sự không có điều luật riêng quy định về tội phạm hoàn thành. Xem thêm: Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và tội phạm hoàn thành?
Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn Luật Hình sự trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162 để nhận được sự trợ giúp trực tuyến từ Luật Minh Khuê.