Khẳng định sai. Bởi vì:

Tội phạm hoàn thành là trường hợp phạm tội đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý được quy định trongcấu thành tội phạm ở mỗi tội phạm cụ thể. Như vậy điều kiện để xác định tội phạm hoàn thành là hành vi phạm tội thỏa mãn hết các dấu hiệu được mô tả trong mặt khách quan của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, mà không bắt buộc phải có các dấu hiệu khác của tội phạm nữa.

Đối với các tội phạm có cấu thành hình thức thì tội phạm được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hết các hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm, đối với tội phạm này dấu hiệu hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc. Đối với tội phạm có cấu thành vật chất tội phạm được coi là hoàn thành khi thỏa mãn các dấu hiệu: Dấu hiệu hành vi, dấu hiệu hậu quả, dấu hiệu mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra. Thời điểm tội phạm hoàn thành không nhất thiết phải trùng với mục đích mà người phạm tội đặt ra ban đầu.

Nhưng theo nhận định trên thì tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện xong hành vi cần thiết để đạt được mục đích của mình, có nghĩa là tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã đạt được mong muốn của mình khi thực hiện tội phạm đó, chứ không phải chỉ là hoàn thành về hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến trên là sai.

>> Xem thêm: Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và tội phạm hoàn thành?

 

Luật Minh Khuê phân tích, giải thích thêm về vấn đề trên như sau:

Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn tất cả dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm. Ở đây, đặc điểm hoàn thành phải được hiểu là "hoàn thành" về mặt pháp lý vì hành vi đã thỏa mãn tất cả các dấu hiệu pháp lý của tội phạm; "hoàn thành" ở đây không gắn với mục đích phạm tội của người phạm tội. Với cách hiểu như vậy nên luật hình sự Việt Nam khẳng định: thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa. Khái niệm tội phạm hoàn thành không dùng để chỉ thời điểm người phạm tội đạt được mục đích của mình, khi tội phạm hoàn thành thì cũng có thể người phạm tội đã đạt được mục đích của mình nhưng cũng có thể chưa đạt được mục đích đó. Nói tội phạm hoàn thành là hoàn thành về mặt pháp lý - tức tội phạm đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Tội phạm khi đã hoàn thành về mặt pháp lý, có thể cũng dừng lại không xảy ra nữa trong thực tế nhưng cũng có thể vẫn còn tiếp tục xảy ra. Ngược lại, tội phạm tuy đã dừng lại nhưng có thể chưa hoàn thành vì chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm.

Việc quy định thời điểm hoàn thành của từng tội phạm được thực hiện qua việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Thời điểm hoàn thành sớm hay muộn là tùy thuộc vào việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, nhưng việc đưa những dấu hiệu nào vào cấu thành tội phạm không phải là tùy ý thích chủ quan của các nhà làm luật mà phụ thuộc vào những yếu tố khách quan. Những dấu hiệu đó phải phản ánh được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đủ cho phép phân biệt với tội phạm khác cũng như với trường hợp chưa phải là tội phạm và đảm bảo thời điểm hoàn thành của tội phạm phù hợp với yêu cầu chống tội phạm cũng như với đặc điểm của tội phạm.

Căn cứ vào định nghĩa chung về tội phạm hoàn thành và dựa vào đặc điểm cấu trúc của các loại cấu thành tội phạm, có thể rút ra được kết luận về thời điểm hoàn thành của các tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, có cấu thành tội phạm hình thức và có cấu thành tội phạm cắt xén như sau:

- Tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hậu quả của tội phạm đã xảy ra vì trong cấu thành tội phạm vật chất có dấu hiệu hậu quả thiệt hại. Ví dụ: Tội giết người là tội có cấu thành tội phạm vật chất nên tội này hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra.

- Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm đã được thực hiện vì trong cấu thành tội phạm hình thức không có dấu hiệu hậu quả thiệt hại mà chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan. Ở những tội phạm này, dấu hiệu hành vi khách quan có thể chỉ là một hành vi như ở tội cướp sản (dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực...) nhưng cũng có thể bao gồm nhiều hành vi khác nhau như tội hiếp dâm (dùng vũ lực hoặc... và giao cấu...). Trong trường hợp dấu hiệu hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi khác nhau như vậy, tội phạm được xác định là tội phạm hoàn thành khi những hành vi này đều đã được thực hiện.

- Tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hành vi bất kỳ (hoạt động) hướng tới thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại được mô tả trong cấu thành tội phạm. Như vậy, đối với tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén chỉ có tội phạm hoàn thành vi khi chủ thể thực hiện hành vi bất kỳ hướng tới hành vi được xác định thì hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cắt xén. Ở đây cần phân biệt giữa trường hợp thực sự châm dứt với trường hợp tạm dừng lại là trường hợp hành vi phạm tội chỉ tạm gián đoạn để tiếp tục xảy ra như ở trường hợp tội liên tục.

Thời điểm mà tội phạm được coi là tội phạm hoàn thành được nêu trên đây khác với thời điểm tội phạm kết thúc. Tội phạm kết thúc là thời điểm hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt. Thời điểm tội phạm hoàn thành là thời điểm dùng để đánh giá về mặt pháp lý còn thời điểm tội phạm kết thúc là thời điểm dùng để đánh giá về mặt thực tế. Hai thời điểm này khác nhau về tính chất nên về hình thức có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau. Hành vi phạm tội có thể dừng lại (kết thúc) khi tội phạm chưa hoàn thành và ngược lại tội phạm tuy đã được coi là tội phạm hoàn thành nhưng vẫn còn có thể tiếp tục xảy ra (chưa kết thúc). Việc phân biệt hai thời điểm này có ý nghĩa khi áp dụng chế định đồng phạm (Điều 17 BLHS), chế định phòng vệ chính đáng (Điều 22 BLHS) và khi áp dụng những quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 27 BLHS). Việc áp dụng những chế định và những quy định này đều dựa vào thời điểm tội phạm kết thúc mà không phụ thuộc vào thời điểm tội phạm được coi là tội phạm hoàn thành.

Nhưng theo khẳng định trên thì tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện xong hành vi cần thiết để đạt được mục đích của mình, có nghĩa là tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã được mong muốn của mình khi thực hiện tội phạm đó, chứ không phải chỉ hoàn thành về hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy, khẳng định trên là Sai.

Ví dụ về tội phạm hoàn thành:

Cấu thành tội phạm của tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 phải là tổng hợp các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Trong cấu thành tội phạm của tội giết người thì mặt khách quan có dấu hiệu hậu quả chết người và mặt chủ quan có dấu hiệu là lỗi cố ý giết người nghĩa là người phạm tội có thái độ mong muốn hoặc để mặc đối với hậu quả làm chết người.

Vì vậy nếu trên thực tế một người có hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả là chết người mà lỗi của người thực hiện hành vi đối với hậu quả chết người là vô ý. Nghĩa là lúc này thái độ của người đó không mong muôn và không để mặc cho hậu quả chết người xảy ra mà cho rằng hậu quả chết người không xảy ra hoặc không thấy trước hậu quả chết người xảy ra những buộc phải thấy trước hậu quả đó thì lúc này mặc dù hành vi đã thực hiện có dấu hiệu hậu quả là làm chết người - dấu hiệu giống dấu hiệu của mặt khách quan của cấu thành tội phạm giết người nhưng cũng không thể xác định hành vi đó là trường hợp phạm tội giết người bởi hành vi đó chưa thỏa mãn dấu hiệu lỗi cố ý đối với hậu quả chết người. Do đó trong trường hợp này hành vi phạm tội sẽ được xác định là hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người, vì hành vi đó thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Ngược lại nếu trong trường hợp một người đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho nạn nhân nhưng thái độ và tâm lý của người đó lại mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra nghĩa là người phạm tội có lỗi cố ý trong việc giết người thì lúc này mặc dù hành vi phạm tội có dấu hiệu là gây thương tích - dấu hiệu giống dấu hiệu của mặt khác quan trong cấu thành tội phạm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 nhưng không thể kết luận người đó phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà lúc này lại phải xác định người đó phạm tội giết người chưa đạt vì hành vi đó đã thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội giết người chưa đạt được quy định tại Điều 126, Điều 15 Bộ luật hình sự 2015.

Nếu bạn đọc còn bất cứ thắc mắc nào liên quan đến các trường hợp phạm tội được coi là hoàn thành, hãy nhấc máy và gọi ngay đến số điện thoại: 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ. Xin chân thành cảm ơn!