1. Đôi nét về tác giả, tác phẩm

1.1. Tác giả

(1) Tiểu sử - cuộc đời

- Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) được sinh ra với tên gốc là Nguyễn Sinh Cung.

- Quê hương của ông nằm tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.

- Ông sinh ra trong một gia đình nho nghèo, với cha là Nguyễn Sinh Sắc và mẹ là Hoàng Thị Loan.

- Hồ Chí Minh được biết đến là một người thông minh, đam mê học hỏi và có tình yêu sâu sắc đối với đất nước và nhân dân. Ông đã dấn thân vào cuộc hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, lãnh đạo nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

→ Ông là một vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, và một danh nhân văn hóa có tầm quốc tế.

(2) Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác

Hồ Chí Minh hiểu rằng văn học là một công cụ quan trọng trong cuộc chiến đấu cho cách mạng. Ông luôn coi văn học như một loại vũ khí hữu ích phục vụ cho mục tiêu đỉnh cao của sự nghiệp cách mạng. Trong sáng tác, ông luôn tập trung vào tính chân thực và tính dân tộc, đặt mục tiêu và đối tượng tiếp nhận vào tâm hồn để xác định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Di sản văn học

Di sản văn học của Hồ Chí Minh là một kho tàng vô giá của văn chính luận, truyện và ký, cũng như thơ ca. Trong số những tác phẩm nổi bật, có thể kể đến Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), và Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966) trong văn chính luận. Các tác phẩm văn học khác bao gồm Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí chìm tàu (1931), và Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) trong truyện và ký. Ngoài ra, ông cũng để lại tập thơ ca quý báu như Nhật kí trong tù (viết trong thời gian bị giam cầm trong nhà lao Tưởng Giới Thạch từ 1942 - 1943) và chùm thơ viết ở Việt Bắc từ 1941 - 1945.

Di sản văn học của ông đặc sắc về tầm quan trọng, đa dạng về thể loại và phong phú về phong cách.

c. Phong cách nghệ thuật

Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh thể hiện tính thống nhất trong mục đích, quan điểm và nguyên tắc sáng tạo. Tuy nhiên, ông cũng thể hiện sự đa dạng trong việc sáng tạo với mỗi thể loại văn học, khiến cho mỗi tác phẩm của ông mang một cách viết độc đáo và khác biệt.

 

1.2. Vài nét về tác phẩm

(1) Hoàn cảnh sáng tác tập thơ "Nhật kí trong tù".

Tập thơ “Nhật kí trong tù" được viết trong bối cảnh khó khăn khi Hồ Chí Minh bị bắt giam bởi chính quyền của Tưởng Giới Thạch từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943, khi ông đang ở tỉnh Quảng Tây. Tập thơ này bao gồm tổng cộng 134 bài thơ được viết bằng chữ Hán.

(2) Xuất xứ của bài thơ "Chiều tối".

Bài thơ "Chiều tối" là tác phẩm thứ 31 trong tập "Nhật kí trong tù," và nó được sáng tác vào mùa thu năm 1942 trên hành trình của Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo khi Bác đang trong thời kỳ bị giam giữ.

 

2. Soạn bài: "Chiều tối" ngắn gọn - Tác giả Hồ Chí Minh - Ngữ văn lớp 11

Câu 1 (trang 42 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

- Câu 2: Chưa hiểu được từ "cô" và "mạn mạn."

- Câu 3: Dịch không cần thiết từ "tối," dẫn đến việc mất đi sự sâu sắc của từ "tối," làm giảm đi tính hàm súc của thơ cổ.

Câu 2 (trang 42 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

∗ Bức tranh tự nhiên trong hai câu đầu:

+ Nơi núi non xanh thẳm trong hoàng hôn.

+ Không gian: bao la, mênh mông.

+ Thời gian: buổi chiều tối - thời điểm cuối cùng của ngày, khi mọi người cần nghỉ ngơi sau một ngày làm việc.

+ Cánh chim, sau một ngày dài bay mải mê, giờ đây đang trở về tổ để nghỉ ngơi. Đây là những cánh chim mệt mỏi, cho thấy trạng thái tinh thần của chúng.

+ Cây mây đơn độc đang trôi chậm chạp giữa bầu trời rộng lớn. Đây là một đám mây mang cảm xúc, cô đơn, lẻ loi, và yên bình.

⇒ Hai câu thơ này vẽ nên một hình ảnh cổ điển của thiên nhiên, nơi có sự hòa quyện giữa sự yên bình và sự buồn bã.

∗ Tính cách tâm hồn của Bác:

- Bác có tình yêu sâu sắc đối với tự nhiên, luôn thấu hiểu và đồng hành cùng nó.

- Tinh thần lạc quan, thái độ ung dung của Bác trước cuộc sống và thiên nhiên xung quanh.

Câu 3 (trang 42 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

- Từ hình ảnh thiên nhiên, ta chuyển dịch sang hình ảnh cuộc sống con người, từ mây, bầu trời, và chim muông sang cuộc sống lao động.

- Trong bức tranh, chúng ta thấy hình ảnh một thiếu nữ say mê công việc, biểu tượng cho sức khỏe và tinh thần trẻ trung của người lao động. Cô thiếu nữ này xuất hiện với tư thế lao động sôi nổi.

- Một lò than nóng hổi nung nấu, mang đến sự ấm áp và xua tan cái lạnh của buổi chiều tối.

- Chữ "hồng" trong ngữ cảnh này mang ý nghĩa đa chiều. Nó không chỉ tạo ra một bức tranh cuộc sống an lành và ấm áp, giúp xua tan phần nào những nỗi đau của người đi đày, mà còn đặt con người vào trung tâm của bức tranh thiên nhiên. Nó biểu thị sự biến đổi từ nỗi buồn đến niềm vui, từ bóng tối đến ánh sáng, và thể hiện lòng tin và tinh thần lạc quan.

⇒ Thông qua hình ảnh cuộc sống lao động, chúng ta thấy vẻ đẹp của tâm hồn con người, sự lạc quan, và niềm tin vào tương lai tươi sáng.

Câu 4 (trang 42 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

- Nghệ thuật miêu tả cảnh sắc trong bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa tính chân thực và sự kết hợp của các nét cổ điển, như việc sử dụng bút pháp chấm phá và ước lệ, cùng với tính hiện đại, thể hiện qua bút pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã và đời thường.

- Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng một cách tỉ mỉ và linh hoạt, cho phép tạo ra sự sáng tạo và đa dạng, đồng thời giúp tạo nên hình ảnh sắc nét và độc đáo.

 

3. Phần luyện tập bài thơ "Chiều tối"

Câu 1 (trang 42 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Trong bài thơ "Chiều tối," ta thấy sự biến đổi của cảnh vật và tâm trạng của nhà thơ:

- Cảnh vật dịch chuyển từ không gian rộng lớn và lạnh lẽo của rừng núi sang không gian ấm áp và tươi vui của cuộc sống gia đình.

- Tâm trạng của nhà thơ trải qua sự thay đổi từ trạng thái uể oải, mệt mỏi, cô đơn và buồn bã đến trạng thái niềm vui và niềm tin sâu sắc vào cuộc sống.

- Sự thay đổi cũng xuất phát từ cảnh vật (như cánh chim mỏi và chùm mây cô đơn) sang tâm hồn của con người (từ nỗi buồn đến niềm vui).

- Nhân vật trữ tình không chỉ hòa quyện vào thiên nhiên mà còn trở thành trung tâm của bức tranh.

- Sự thay đổi được thể hiện qua ánh sáng, từ ánh chiều âm u và tăm tối sang ánh lửa hồng, rực rỡ và ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui.

Câu 2 (trang 42 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hình ảnh tập trung vào việc thể hiện tâm hồn tươi sáng của Hồ Chí Minh là hình ảnh của một cô gái đang xay ngô bên bếp lửa hồng:

- Hình ảnh này gợi lên cuộc sống sum vầy và ấm áp, giúp xua tan ít nhiều những nỗi đau khổ của những người bị đày, mang lại niềm vui và sức mạnh, làm ấm lòng những người tù.

- Sự thay đổi từ tâm trạng buồn bã sang niềm vui, từ bóng tối đến ánh sáng.

- Hình ảnh này thể hiện niềm tin và tinh thần lạc quan của nhân vật.

- Con người trở nên trung tâm của bức tranh thiên nhiên, nơi thể hiện sự sống và sự kết nối giữa con người và thiên nhiên.

⇒ Thông qua hình ảnh cuộc sống lao động này, ta nhìn thấy vẻ đẹp của tâm hồn của  người tù, với sự lạc quan và niềm tin vào một tương lai tươi sáng.

Câu 3 (trang 42 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hai câu thơ của Hoàng Trung Thông phản ánh rằng bài thơ trong "Nhật kí trong tù" của Bác luôn thể hiện sự kết hợp hoàn hảo giữa sức mạnh và tình cảm:

- Trên con đường chuyển động, dù đối diện với bao gian khổ, tâm hồn của Bác vẫn tỏ ra nhạy cảm và hoà quyện với thiên nhiên, thể hiện sự bình tĩnh trong tinh thần và lòng dũng cảm không biến dạng -> sự mạnh mẽ.

- Sự hiện diện của con người và việc đặt họ vào trung tâm của bức tranh "Chiều tối" khiến bức tranh sáng sủa hơn, ấm áp hơn, thể hiện tình yêu đối với con người và tình yêu đối với cuộc sống một cách chân thành và đam mê -> sự yêu thương con người và cuộc sống.

- Hướng vận động của bốn câu thơ và hình tượng thơ làm cho chúng ta cảm nhận sự lạc quan, niềm tin, và sự hài hòa giữa sức mạnh và tình cảm trong bài thơ -> tinh thần lạc quan và tình yêu cuộc sống.

>> Bài viết liên quan: Phân tích bài thơ Chiều tối - Hồ Chí Minh chọn lọc hay nhất

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về soạn bài: "Chiều tối" ngắn gọn - Tác giả Hồ Chí Minh - Ngữ văn lớp 11. Xin cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!