- 1. Cơ sở pháp lý về người lao động cao tuôi
- 2. Xác định thế nào là người lao động cao tuổi
- 3. Loại hợp đồng lao động được ký kết khi sử dụng người lao động cao tuổi
- 4. Nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động cao tuổi
- 5. Khoản tiền trả cho người lao động cao tuổi tương đương với mức đóng BHXH bắt buộc thì có phải chịu thuế TNCN?
- 6. Người lao động cao tuổi có phải đóng lệ phí công đoàn?
Kính chào công ty Luật Minh Khuê, hiện tại công ty tôi có nhu cầu tuyển dụng và sử dụng một số lao động là người cao tuổi, nhưng còn nhiều vấn đề pháp lý cần lưu ý khi sử dụng đối tượng người lao động này mà chúng tôi chưa nắm rõ. Mong nhận được tư vấn từ luật sư. Cụ thể đó là những vấn đề như sau:
- Theo quy định pháp luật lao động hiện nay thì chúng tôi có thể ký với người lao động loại hợp đồng lao động với thời hạn như thế nào?
- Chúng tôi có phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động cao tuổi hay không? Đối với người lao động đang hưởng lương hưu thì có phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không?
- Việc rút ngắn thời gian làm việc cho người lao động cao tuổi có phải là nghĩa vụ bắt buộc?
Người hỏi: Ngọc Thanh - Bình Dương
Luật sư tư vấn:
1. Cơ sở pháp lý về người lao động cao tuôi
- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014
- Luật Bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi năm 2014
- Nghị định 12/2022/NĐ-CP
- Quyết định 1908/QĐ-TLĐ ngày 19/12/2016
2. Xác định thế nào là người lao động cao tuổi
Khoản 1 Điều 148 Bộ luật lao động 2019 quy định: "Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật này"
Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật lao động thì năm 2022, người lao động cao tuổi là người lao động tiếp tục lao động sau độ tuổi là 60 tuổi 06 tháng đối với lao động nam và 55 tuổi 08 tháng đối với lao động nữ.
3. Loại hợp đồng lao động được ký kết khi sử dụng người lao động cao tuổi
Khoản 1 Điều 149 Bộ luật lao động 2019 quy định: "Khi sử dụng người lao động cao tuổi, hai bên có thể thỏa thuận giao kết nhiều hợp đồng lao động xác định thời hạn".
Như vậy, theo quy định này thì hiện nay, việc sử dụng người lao động cao tuổi làm việc chỉ còn được giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn. Trước đây theo quy định tại Bộ luật lao động cũ năm 2012 thì có thể giao kết cả hợp đồng lao động không xác định thời hạn (khoản 1 Điều 167). Cùng với đó, pháp luật lao động hiện hành cũng không còn quy định bắt buộc người lao động cao tuổi phải có đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động mới được giao kết hợp đồng lao động đối với đối tượng người lao động này. Tuy nhiên, về tinh thần chúng thì vẫn yêu cầu người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động cao tuổi làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người lao động cao tuổi (trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn). Tuy nhiên về vấn đề xác định đâu là nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không được sử dụng người lao động cao tuổi thì chưa có hướng dẫn cụ thể.
Như vậy, do đặc thù về đối tượng người lao động cao tuổi nên hợp đồng lao động được ký kết chỉ là hợp đồng lao động xác định thời hạn (là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng - điểm b khoản 1 Điều 20 Bộ luật lao động 2019).
Như vậy, khi có nhu cầu sử dụng người la động cao tuổi, công ty quý khách nên cân nhắc và xem xét giao kết với người lao động cao tuổi hợp đồng lao động với thời hạn thích hợp để đảm bảo đểm kiện về sức khỏe của người lao động (giao kết nhiều lần, mỗi lần không quá 12 tháng là một lựa chọn khá hợp lý).
Trong trường hợp mà người sử dụng lao động và người lao động cao tuổi đã giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn trước khi người lao động cao tuổi đến tuổi nghỉ hưu (tức trở thành người lao động cao tuổi) thì hai bên hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn đó ngay sau khi người lao động cao tuổi đến tuổi nghỉ hưu.
Cần lưu ý, hiện hành pháp luật lao động không quy định bắt buộc người lao động cao tuổi phải đáp ứng điều kiện về sức khỏe lao động theo xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền nhưng trong quá trình sử dụng người lao động cao tuổi thì người sử dụng lao động vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động cao tuổi ít nhất 1 năm 2 lần (06 tháng 1 lần). Nếu không tuân thủ thì người sử dụng lao động sẽ phải đối mặt với rủi ro pháp lý là bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 22 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
4. Nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động cao tuổi
Theo quy định tại khoản 9 Điều 123 Luật bảo hiểm xã hội thì "người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng mà đang giao kết hợp đồng lao động thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc".
Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu theo quy định. Vậy để xác định nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động cao tuổi thì phải xác định có phải người lao động cao tuổi nào cũng sẽ là người đang hưởng lương hưu?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 169 Bộ luật lao động 2019 thì để xác định có đủ điều kiện hưởng lương hưu hay không thì người lao động cần đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau:
(i) Người lao động đã đạt độ tuổi nghỉ hưu theo quy định;
(ii) Người lao động đã có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
Như vậy, về mặt nguyên tắc, chỉ khi thỏa mãn đầy đủ hai điều kiện nêu trên thì người lao động mới được xem là người lao động được hưởng lương hưu và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Đối chiếu với định nghĩa về người lao động cao tuổi thì sẽ nhận thấy rằng, không phải lúc nào người lao động cao tuổi cũng sẽ là người lao động được hưởng lương hưu bởi vì với định nghĩa này mới chỉ xác định được đáp ứng điều kiện về độ tuổi nghỉ hưu, còn phải xem xét thêm điều kiện người lao động cao tuổi đó đã có đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định để được hưởng lương hưu hay chưa. Và nếu người lao động cao tuổi chưa có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì người lao động cao tuổi này chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu và kết luận rằng trường hơp này người lao động cao tuổi vẫn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và trong trường hợp này cả người lao động cao tuổi và người sử dụng lao động sẽ phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc với mức đóng theo quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Về bảo hiểm y tế thì theo quy định tại Điều 12 và Điều 13 Luật bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi năm 2014 thì trường hợp người lao động được hưởng lương hưu thì sẽ do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng. Còn người lao động cao tuổi không có đủ thời gian 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì sẽ tự đóng bảo hiểm y tế với mức đóng: người lao động đóng 1,5% và người sử dụng lao động đóng 3% trên mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội)
5. Khoản tiền trả cho người lao động cao tuổi tương đương với mức đóng BHXH bắt buộc thì có phải chịu thuế TNCN?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 168 Bộ luật lao động 2019 thì nếu người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc thì ngoài việc trả lương, người sử dụng lao động còn phải chi trả thêm cho người lao động cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Vì người lao động cao tuổi đang hưởng lương hưu không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (khoản 9 Điều 123 Luật bảo hiểm xã hội), bảo hiểm y tế (Khoản 2 Điều 12 Luật bảo hiểm y tế), và bảo hiểm thất nghiệp (Khoản 2 Điều 43 Luật việc làm) nên căn cứ theo quy định trên, người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động cao tuổi khoản tiền tương đương với mức đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc này theo quy định cùng với kỳ trả lương khi sử dụng người lao động cao tuổi đang hưởng lương hưu làm việc.
Về thuế thu nhập cá nhân, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 thì nếu người lao động thuộc đối tượng cá nhân cư trú có ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì các khoản chi trả thêm vào cùng kỳ trả lương cho người lao động nói trên cũng được xem là các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân. Người sử dụng lao động sẽ khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần đối với những khoản đó theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân.
6. Người lao động cao tuổi có phải đóng lệ phí công đoàn?
Về nghĩa vụ đóng lệ phí công đoàn thì theo quy định của Luật Công đoàn chưa có quy định nào quy định riêng biệt về nghĩa vụ đóng lệ phí công đoàn đối với người lao động cao tuổi và người lao động trong độ tuổi lao động. Do đó, theo tinh thần của điều luật thì người lao động là đoàn viên thuộc công đoàn cơ sở thì đóng đoàn phí hằng tháng bằng 01% tiền lương thực lĩnh (tiền lương đã khấu trừ tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân của đoàn viên), nhưng mức đóng đoàn phí hàng tháng tối đa chỉ bằng 10% mức lương cơ sở theo quy định của Nhà nước (khoản 2 Điều 23 Quyết định 1908/QĐ-TLĐ ngày 19/12/2016).
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi đối với yêu cầu giải đáp của khách hàng về một số vấn đề pháp lý khi sử dụng người lao động cao tuổi. Bạn đoc có vướng mắc pháp lý nào khác cần hỗ trợ vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 1900.6162 để được gặp và trao đổi trực tuyến với luật sư, nhận giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất. Nếu vấn đề cần được giải đáp phức tạp có kèm theo nhiều hồ sơ, tài liệu quý khách có thể lựa chọn hình thức thư tư vấn bằng cách gửi yêu cầu tư vấn về địa chỉ Email: lienhe@luatminhkhue.vn để luật sư nghiên cứu và giải đáp bằng văn bản chi tiết, rõ ràng. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)