1. Sử dụng súng điện và dùi cui điện đánh người

Chào Luật sư! Tuần trước em tôi bị một nhóm thanh niên gồm 2 người đuổi đánh. Họ có sử dụng súng điện và dùi cui điện đánh em tôi đến ngất xỉu (công an đã thu giữ súng điện). Em tôi đi giám định thì cơ quan giám định kết luận thương tích 2%.
Vậy, Luật sư cho tôi hỏi, anh em tôi có đủ căn cứ để khởi tố hình sự họ không hay họ chỉ bị phạt hành chính thôi ạ ? Và nếu như không đủ điều kiện để khởi tố thì mình nên làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình ?
Mong nhận được sự giải đáp của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;...

Và Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

Điều 155. Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Đối chiếu với trường hợp của bạn, mặc dù tỷ lệ thương tật là 2% nhưng những người hành hung em bạn đã sử dụng hung khí (dùi cui điện và súng điện) nên vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015, bạn phải làm đơn tố cáo hoặc đơn yêu cầu khởi tố thì cơ quan điều tra mới có căn cứ để điều tra và khởi tố đối với những đối tượng đã hành hung em bạn.

>> Xem thêm:  Quyền công dân trong quá trình điều tra vụ án hình sự là gì ? Cơ quan điều tra có nghĩa vụ, trách nhiệm gì ?

2. Công an xã đánh người bị tạm giữ

Xin chào Luật sư! Tôi có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Tôi có cậu em làm kinh doanh. Ngày 26/9/2015 có một khách hàng tới trong tình trạng say rượu sau đó làm mất vệ sinh vào trong phòng tắm lúc đó em tôi phát hiện có bảo khách hàng là phải dọn sạch nhưng anh ta không chịu tỏ thái độ thách thức và lấy mũ bảo hiểm đập xuống nền nhà.
Rồi rút điện thoại ra gọi công an xã đến giải quyết,công an xã tới em tôi có trình bày lại sự việc như vậy,nhưng công an yêu cầu cả hai người lên trụ sở công an xã làm việc. Tại trụ sở công an xã đồng chí công an viên thuộc quyền quản lý khu vực đó đã đánh em tôi liên tục vào đầu mà trong tình trạng say rượu. Sau đó tôi đưa em tôi đi viện bệnh viện kết luận em tôi bị trấn thương đầu phần tai bị sưng phù nề, tôi xin hỏi luật sư đồng chí công an viên sẽ bị sử lý pháp luật như thế nào?
Trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì trong quá trình điều tra vụ việc phía công an xã này đã có hành vi đánh đập em trai bạn gây ra hậu quả là em bạn bị chấn thương phần đầu và tai bị xưng phù nề. Như vậy, hành vi của người công an này đã trực tiếp xâm phạm tới sức khỏe của em trai bạn. Theo đó, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

......

Tuy nhiên, trong trường hợp này bạn vẫn chưa cung cấp cho chúng tôi về tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại nên chưa có cơ sở để xác định hành vi của đối tượng trên thuộc khung hình phạt nào. Lúc này, cơ quan công an sẽ đưa em bạn đi giám định để xác định tỷ lệ thương tật, lấy lời khai, chứng cứ,... để có cơ sở truy tố đối tượng đã đánh người theo khung hình phạt hợp lý.

>> Xem thêm:  Lỗi tai nạn giao thông chết người có bị khởi tố hoặc phải đền bù thế nào ?

3. Chở bạn đi đánh nhau nhưng không biết

Thưa luật sư, xin cho em hỏi: Nếu như em chở bạn của em nhưng em không hề biết là bạn của em đi chém người thì em có bị truy cứu trách nhiêm hình sự không (em đã có tiền án). Và chiếc xe em chở bạn ấy đi đứng tên em thuộc quyền sở hữu của em thì có bị tịch thu vĩnh viễn không ?
Em xin chân thành cảm ơn ạ.

Luật sư trả lời:

Với thông tin dữ liệu bạn đưa ra thì bạn "không hề biết là bạn của em đi chém người" do đó hành vi chở bạn của bạn chưa đủ cấu thành nên đồng phạm của tội "giết người" hay "cố ý gây thương tích". Bởi đồng phạm là trường hợp phải có hai người trở lên cùng thực hiện một tội phạm. Có nghĩa bạn phải được thông báo trước về hành vi phạm tội và bạn phải cùng thực hiện hành vi phạm tội này, cụ thể Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

"Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm..."

Tuy nhiên, trong trường hợp này nếu như người bạn của bạn mục đích sử dụng hung khí để "giết người" thì bạn cần phải lưu ý: Bạn phải tố giác hành vi này của bạn bạn. Nếu bạn không tố giác hành vi phạm tội của người bạn này thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 18 và Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 18. Che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

3. Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này."

Đối với chiếc xe, nếu nó là vật chứng của vụ án thì theo quy định của Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chiếc xe này sẽ được xem xét, xử lý như sau:

"...2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;

b) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;

c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:

a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;

b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;

c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;

d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật....

>> Xem thêm:  Mua điện thoại không trả hết tiền bị xử lý như thế nào?

4. Đi cùng nhưng không đánh nhau

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Bạn của bạn cháu tôi đi đánh nhau và gọi điện nhờ bạn của cháu lên để đánh nhau (gọi điện cho bạn của cháu khi đó đang chơi ở nhà tôi nên các cháu rủ nhau đi).
Khi lên đến nơi các cháu thấy bạn đang bị đuổi đánh nên đã quay xe bỏ chạy về. Vậy gia đình người bị đánh (đã bị bạn của cháu tôi đánh) đã làm đơn khởi kiện ra công an và công an đã đến nhà không đọc lệnh, không thông báo cho gia đình và đèo cháu tôi bằng xe máy lên đồn công an và bắt giam từ chiều hôm trước đến tận chiều hôm sau mới thả (vụ án đã xảy ra cách thời điểm công an đến đưa cháu tôi đi được gần 2 tháng).
Tôi xin hỏi luật sư như vậy có đúng không? Và hiện tại gia đình bị hại đang yêu cầu đi giám định thương tật. Vậy cháu tôi chỉ đi cùng và đến nơi lại quay xe bỏ chạy, thì cháu tôi có bị xử lý hình sự không?
Trân trọng cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo đó, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

......

Trong bài viết của bạn không nêu rõ tỷ lệ thương tật là bao nhiêu và cháu bạn bao nhiêu tuổi nên tạm thời coi như khả năng xấu nhất là cháu bạn đã đủ tuổi bị chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Trong trường hợp trên cháu của bạn đã đồng ý đi đánh nhau, tuy nhiên đến nơi thì thấy bạn của mình đang bị đánh nên quay xe bỏ về. Có thể khẳng định đây là hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì cháu bạn cháu bạn hoàn toàn có thể thực hiện đến cùng hành vi như gia nhập vào cuộc ẩu đả nhưng không thực hiện tuy không có gì ngăn cản. Do đó theo quy định của pháp luật hiện hành thì cháu bạn được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

2. Về việc bắt giữ người của công an:

Cháu của bạn bị cơ quan công an áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người theo Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự

Người có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp trong trường hợp này là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra công an cấp huyện.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.

Biên bản phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và những khiếu nại của người bị bắt.

Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, người thi hành lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên.

Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

Người ra lệnh bắt phải thông báo ngay cho gia đình người đã bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết. Nếu việc thông báo cản trở quá trình điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh bắt phải thông báo ngay.

Trong trường hợp của cháu bạn, công an đã đến nhà không đọc lệnh, không thông báo cho gia đình và đèo cháu bạn bằng xe máy lên đồn công an và bắt giam từ chiều hôm trước đến tận chiều hôm sau mới thả. Theo đó gia đình của người cháu bạn có thể khiếu nại cơ quan công an về hành vi này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài 1900.6162 để được tư vấn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Phát tán ảnh và video "Nóng" của người khác có bị truy tố không ?