1. Luật sư là gì?

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).

2. Tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật sư là gì?

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.

Người có đủ tiêu chuẩn trên muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.

3. Suy nghĩ kiểu luật sư là gì?

Suy nghĩ kiểu luật sư (SNKLS) là một dụng cụ lý trí của luật sư. Nó là cách thức mà luật sư suy nghĩ trong đầu mình (tư duy) để phân tích các sự kiện, nhằm kết nối chúng với luật pháp tương ứng, bằng cách nêu lên các câu hỏi theo một cách lập luận nhất định, gọi là logic hình thức. Câu hỏi ấy dựa trên luật nên nó là câu hỏi pháp lý. Trả lời câu hỏi ấy sẽ giúp bạn tìm ra các giải pháp phù hợp với luật pháp.

Khi nào thì luật sư đưa ra các giải pháp? Thưa, khi họ được một ai đó giao cho một vấn đề, một vụ việc, một giao dịch, một tình huống... và được yêu cầu “bảo vệ lợi ích hợp pháp”. Khi giải quyết, luật sư luôn luôn xem xét vụ việc liên quan theo hai khía cạnh: một là vụ việc; hai là luật pháp điều chỉnh vụ việc ấy:

- Vụ việc ấy có thể chia ra nhiều phần, nhiều mảnh. Thí dụ một em bé bị bỏng thì ta có các yếu tố: nước sôi — không ai trông em — em thò tay vào... mỗi cái là một “phần”, một “mảnh” hay “yếu tố” của vụ việc. Khi SNKLS, chúng sẽ được gọi là “sự kiện” (facts) và sẽ (question of fact). Trong các bản án này được ghi trong phần “nhận xét”

- Luật pháp thường đã có sẵn, luật sư phải đi tìm ngành luật, văn bản luật và điều khoản phù hợp. Chọn luật nào cho đúng để áp dụng vào sự kiện; đó là “vấn đề pháp lý”.

Vụ việc mà luật sư xem xét cũng còn ỉược gọi là một vấn đề pháp lý. Vậy một vấn đề pháp lý có thể à một vụ việc bị tranh chấp (để bào chữa) hay một giao dịch can được chỉ dẫn (để tư vấn) và chúng sẽ có những vấn đề về sụ kiện và về pháp lý.

Trong định nghĩa trên xin bạn lưu ý: (i) suy nghĩ; (ii) đặt ra các câu hỏi pháp lý và (iii) đưa ra các đề nghị phù hợp. Đấy là các đặc điểm hay là tính chất của SNKLS.

Tại sao lại chỉ đưa ra các đề nghị phù hợp? Vì mỗi vấn đề nào đó thường có các giải pháp khác nhau: Luật sư đề nghị nhưng thân chủ không cần phải làm theo. Giải pháp được chấp nhận hay không là một chuyện; nhưng nền tảng, lý lẽ của giải pháp có chắc chắn không, hợp lý không, thì nó tùy thuộc vào SNKLS.


Khi SNKLS thì bạn chọn từ trong các sự kiện của toàn bộ sự việc được trình bày cho mình một chi tiết mấu chốt nhất, hay quan trọng nhất; dựa trên đó nêu lên cac câu hỏi liên tục về cơ sở pháp lý; câu hỏi này tiếp theo câu hói khác, theo logic hình thức. Câu trả lời cho các câu hỏi đó sẽ giúp bạn kết luận về nội vụ và đề nghị giải pháp cho thân chủ.

Cơ sở pháp lý là một nền tảng do luật quy định, hay do sự thỏa thuận, trong đó một người có quyền buộc người khác phải thực hiện một nghĩa vụ cho mình; hay họ cũng bị buộc phải làm như thế cho người khác. Luật pháp sở dĩ trở thành một cơ sở pháp lý là vì:

+ Luật lệ đã được ban hành, hay một tập quán đã được nhiều người chấp nhận khiến nó trở thành một sự bó buộc phải làm. Luật được ban hành và phân loại thành: luật dân sự, hình sự, hành chánh, thương mại..

+ Sự thỏa thuận hai người đưa ra cho nhau, trong một tư cách nhất định mà họ nắm (học trò, thầy giáo, chủ nợ, con nợ). Sự thỏa thuận này được tạo lập qua nghĩa vụ dân sự và nghĩa vụ theo hợp đồng hay trách nhiệm ngoài hợp đồng.

Khi đề cập “pháp lý”, “quan hệ pháp lý”... nhiều người dễ nghĩ đến tính chất long trọng của nó; thực ra đó chỉ là một điều gì đó được luật quy định và buộc người ta phải tuân theo. Tuân thủ luật pháp không phải vì nó là luật pháp, mà vì cái mục đích mà luật phục vụ.

Khi nghe nói luật thừa kế quy định các nội dung của bản di chúc để nó có giá trị pháp lý; bởi vậy không được sai sót; ta thường sợ vì nó là “pháp lý”. Khoan! Ta đặt câu hỏi: “Có giá trị với ai, có phải với cơ quan chính quyền hay tòa án không?”. Luật pháp hay tòa án có tranh chấp đi sản với người thừa kế đâu; mà chính là các người kia tranh chấp với nhau và họ đem nhau ra tòa đấy chứ. Bên bảo “di chúc không có giá trị”; bên nói “có chứ”. Thực sự họ tranh chấp nhau về tài sản thừa kế; còn hình thức di chúc chỉ là cái cớ. Vậy tòa án phải quyết định hình thức của di chúc đúng hay sai? Nhìn ra trước các sự tranh chấp kia, các điều kiện của di chúc.  Suy ra, “giá trị pháp lý của bản di chúc” là loại bỏ tranh chấp.

4. Đặc điểm của suy nghĩ kiểu luật sư

Khi làm luật sư, khách sẽ đến nhờ bạn làm một trong hai việc chính:

Thứ nhất là bào chữa ở tòa hay một cơ quan tài phán nào đó vì họ bị khiếu nại, tố cáo, bị triệu tập, hoặc họ làm ngược lại. Loại việc này ta gọi là giải quyết tranh chấp tại pháp đình. Công việc của bạn thường là bảo vệ, bào chữa, hiểu theo nghĩa rộng.

Thứ hai là cho ý kiến về một việc họ định làm, hay làm mà muốh tránh các rắc rối về sau, hoặc tìm một giải pháp cho một cuộc tranh chấp nào đó mà không muốn đưa tới pháp đình, việc này được gọi là tranh chấp ngoại tư pháp.

Chia theo địa điểm thì chỉ có hai nhưng theo nội dung công việc thì có nhiều. Việc ở pháp đình được chia ra những vụ như hình sự, phi hình sự, dân sự, hành chính... Công việc ngoại tư pháp có nội dung rất rộng, có thể bao gồm cả hình sự, phi hình sự, tư vấn, thậm chí giải đáp pháp luật, tuyên truyền pháp luật.

Khi một vụ việc đến tay bạn thì luôn luôn nó là một tình huống khó khăn: bà vợ muốn ly dị; người bán không trả tiền; người chủ nhà không chịu trả tiền đặt cọc, đòi nợ... Tình huống ấy được trình bày cho bạn nhiều khi rõ ràng, nhiều khi rối mù và tất cả kết tinh lại giống như một cục đá xanh đặt ngay trước mặt bạn. Bị giao “cục đá” bạn phải dùng cách SNKLS để phân tích nó nhằm đưa ra giải pháp. SNKLS giống như một con dao. Giải pháp đề nghị của bạn lại phải là một cái ít bị đối phương chống đối nhất (tức là người tranh chấp với thân chủ của bạn cùng luật sư họ nhờ), và thuyết phục được những người thứ ba như thẩm phán, viện kiểm sát...

Có một điều tréo ngoe của phương pháp này là khi thân chủ đến hỏi bạn, song để trả lời họ thì trong đầu mình, bạn phải đặt ra các câu hỏi. Hỏi mình được, bạn mới có câu trả lời cho thân chủ! Xin nhớ nằm lòng đặc điểm này của SNKLS.

Bạn có thể vặn tôi: “Tại sao thân chủ đến hỏi, nhưng để trả lời thì trong đầu mình lại phải hỏi?”

Dạ, nếu bạn nói “Anh Ba và cô Lan là vợ chồng”; tức là bạn dùng một câu ở thể xác định. Khi ấy, bạn chỉ nhìn nhận một sự thật, một sự kiện, và bạn không phải suy nghĩ gì thêm sau đó. Thế nhưng nếu bạn hỏi “Anh Ba và cô Lan có là một đôi vợ chồng không?” thì bạn vừa nêu một câu hỏi, và bạn sẽ phải đi tìm câu trả lời. Bạn phải tìm xem họ có lập hôn thú không, ngày nào, ở đâu… Lúc nào thì bạn nêu câu hỏi kia? Không phải vì đôi vợ chồng kia đang sống hòa thuận với nhau, mà vì bà vợ đến nhờ bạn giúp đỡ do ông chồng lăng nhăng. Là luật sư, bạn thường tiếp nhận... nghịch cảnh của người khác.

Nói ngắn gọn, trong đầu mình, câu hỏi sẽ đòi câu trả lời; muốn trả lời phải tìm tòi; cái gì tìm ra được mới là câu trả lời; câu trả lời này giúp đưa ra kết luận; kết luận mới tạo nên giải pháp cho thân chủ.

Cô em gái xinh xinh của bạn có một ông bồ, cô phân vân trong quyết định của mình là chấp nhận lời cầu hôn hay không và bèn đi hỏi ý kiến người khác. Khi cô hỏi mẹ, bà cụ có thể trả lời ngay là nên lấy hay không, theo kinh nghiêm và lòng thương con của bà. Câu trả lời của bà có thể là ‘lấy nó con sẽ khổ”. Cô bé hỏi, bà cụ trả lời ngay.

Nhưng nếu cô ấy đi hỏi anh của đứa bạn mình là một luật sư thì ông ta không trả lời ngay mà sẽ hỏi: Anh ta đã cư xử với em như thế nào, anh ta thật hay dối với em; có hay đến trễ hẹn không. Đại khái là ông “điều tra” anh kia để đưa ra kết luận cho cô em là có nên lấy anh kia không.

Cách SNKLS không chỉ dành cho luật sư mà còn cho tất cả những ai phải vận dụng luật pháp để giải quyết một tình huống bị tranh chấp đang xảy ra, phù hợp với luật pháp. Họ đều bị người khác đưa cho một “cục đá”; và để giải quyết, họ phải có “con dao”. Con dao này giúp tách “cục đá” ra thành từng miếng khác nhau. Chọn miếng đá nào để dùng cho công việc của mình là tùy chức năng của mỗi người.

Lấy thí dụ, ông A và B là hàng xóm của nhau. Một hôm hai người cãi nhau. B bèn đập phá đồ đạc, cây kiểng của A  trước cửa nhà. B làm hung hăng quá khiến A phải tìm cách cản lại. Con trai của A phụ với bố một tay. Sau khi đã ôm lại được một ít đồ, và vì tiếc của, họ đấm đá B cho đến khi B chảy máu đầu. B bèn đi thưa cha con ông A về tội cố ý gây thương tích. Khi nội vụ ra tòa, A nhờ luật sư An trong tư cách bị cáo. B nhờ luật sư Ba với tư cách người bị hại. Kiểm sát viên K khởi tố. Thẩm phán T xét xử.

Cả bốn người đều có “cục đá”; tất cả đều có thể dùng “con dao”. Họ xem sự việc trong những giai đoạn khác nhau và trả lời những câu hỏi như: Có một thương tích đã xảy ra cho B không hay vì ông ta ngã vào thềm hè, mức thương tật là bao nhiêu; mức chống cự thế nào và có thể tạo nên một sự phòng vệ chính đáng ở đây không... Đó là các câu hỏi pháp lý. SNKLS chỉ cách nêu lên các câu hỏi này. Khi có các câu trả lời thì mỗi người sẽ dùng chúng một cách. Kiểm sát viên K lấy cơ sở để truy tố; luật sư An để bào chữa; luật sư Ba để buộc tội; thẩm phán T để kiểm nghiệm các lý lẽ các bên đưa ra nhằm tuyên án.

Tôi cũng xin lưu ý bạn thêm rằng SNKLS chỉ là một phương pháp, mà phương pháp thì có nhiều, người này dùng cái này, người kia dùng cái khác; nhưng SNKLS cho bạn tìm ra giải pháp khó bị đối phương tấn công nhất vì nó được làm theo những cách thức mà lý trí con người dễ dàng chấp nhận nhất. Thế nhưng, như đã đề cập, dù là hay nhất nhưng chưa chắc giải pháp tìm ra luôn luôn được chấp nhận; vì con người có nhiều cách lựa chọn khác nhau cho một cái gì họ phải đương đầu. Thí dụ, khi tranh chấp mà họ quyết định tha thì cho dù phương pháp có hay cách mấy, giải pháp có hợp lý cách mấy lúc ấy cũng chẳng còn ý nghĩa gì với họ.

5. Nội dung của suy nghĩ kiểu luật sư

Ở Học viện Tư pháp, bạn đã biết quá trình nghiên cúu của luật sư trong một vụ dân sự như sau:

“(i) Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án:

(ii) Đọc lướt qua toàn bộ hồ sơ;

(iii) Ghi chép các sự kiện chính theo ngày tháng, theo nội dung sự việc, theo sự kiện;

(iv) Sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ;

(v) Suy nghĩ về phương hướng để tìm ra giải pháp giải quyết vụ án có lợi cho khách hàng của mình.

Nghiên cứu hồ sơ do nguyên đơn cung cấp...

Nghiên cứu hồ sơ do bị đơn cung cấp.”

Việc (i), (ii) và (iii) đều quy về một mục đích là tìm hiểu đầy đủ vụ việc. Việc (iv) là sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ. Đây chính là SNKLS. Vậy bạn sẽ phải làm gì trong công việc này? Sắp xếp và nghiên cứu chứng cứ là làm gì, và làm thế nào? SNKLS trình bày ở đây sẽ trả lời bạn.

Tôi xin nhấn mạnh, tầm hiểu đầy đủ vụ việc là xem xét các chi tiết do cả hai bên (nguyên đơn và bị đơn) đưa ra, chứ không chỉ xem một bên. Bảo vệ thân chủ là đưa ra lý lẽ của mình để bác bỏ sự khiếu nại của bên kia, tư vấn thì cũng làm như vậy; nhưng ta không đem chúng ra để cãi nhau mà trình bày cho thân chủ để họ biết điểm mạnh, điểm yếu của chính họ, nhằm quyết định sẽ làm gì. Khi bạn đã tàm hiểu đầy đủ rồi thì không cần phải nghiên cứu lại hồ sơ do ai đó cung cấp; bạn phải làm việc ấy trước khi “sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ”.

Như các bạn đã biết, trong một vụ hình sự, cơ sở buộc tội được căn cứ trên các yếu tố khách thể, khách quan, chủ thể, chủ quan và bạn chỉ tìm cách làm sao triệt tiêu một trong những yếu tố này thì thân chủ của bạn có thể thoát tội. Các yếu tố kia dễ tìm, và lại có điều luật rành mạch nên SNKLS trong hình luật không đóng vai trò quan trọng. Nó chỉ quan trọng khi chọn bằng chứng và chọn yếu tố nào để xác định hay bác bỏ tội danh.

Trong các vụ phi hình sự thì bạn phải sử dụng cách SNKLS rất nhiều; vì các vụ này không có cơ sở quy trách nhiệm rõ ràng như hình luật. Thông thường vụ nào cũng có nhiều tình tiết, nhiều điểm tranh chấp, nhiều người với nhiều ý kiến nên bạn phải có phương pháp thuyết phục nhất. Khi nghe thân chủ trình bày xong, trong đầu bạn “con dao” phải “hoạt động" ngay để tìm xem có cơ sở pháp lý không, nó nằm ở tình tiết nào. Chương trình đào tạo nguồn luật sư dạy bạn những công việc phải làm  tòa trong các vụ dân sự; nhưng trước giai đoạn đó, các bạn đã phải dùng đến “con dao” ở văn phòng rồi.

Về lĩnh vực tư vấn, khi bạn được yêu cầu cho ý kiến thì có những việc

  1. Đã xảy ra và
  2. Chưa xảy ra nhưng thân chủ định làm.

Việc (i) có thể liên quan đến pháp đình hoặc không nhưng việc (ii) thì hoàn toàn không liên quan  đến pháp đình. Thí dụ, tư vấn về việc lập hợp đồng vay thuê tài chính máy móc. Công việc lọai (i) thì cần đến cách SNKLS, nhưng loại (ii) đòi hỏi bạn một khả năng khác.

Vậy bạn đã hiểu SNKLS là gì. Phải SNKLS thì mới là luật sư. Như sau này tôi sẽ chúng minh, cách tiếp cận mà bạn đã học giúp bạn trở thành một cán bộ pháp chế. Và để phân biệt, tôi trình bày thêm sự khác biệt về cách vận dụng luật pháp giữa một cán bộ pháp chế và một luật sư.

Cán bộ pháp chế phụ trách một mảng công việc hay một lĩnh vực nhất định nào đó trong một đơn vị. Thí dụ, việc hộ tịch trong một ban của phòng tư pháp ở phường. Nếu bạn là người ấy, thì trong vai trò này bạn phải nhớ trong đầu mình những điều khoản khác nhau về thủ tục lập hôn thú, điều kiện để kết hôn, bổn phận vợ chồng... Với cán bộ pháp chế, đó là yêu cầu trọng yếu. Bây giờ có một thanh niên hay thiếu nữ nào đến phường để làm thủ tục đăng ký kết hôn, cán bộ pháp chế sẽ thụ lý nội vụ. Khi làm, họ dựa trên luật mà mình đã nắm vững để bảo những con người hạnh phúc kia phải làm cái gì và làm như thế nào.

Ít ai trả tiền để hỏi một luật sư về việc làm thủ tục đăng ký kết hôn; thường họ chỉ đến gặp bạn khi vợ chồng lục đục với nhau, thí dụ - bà vợ muốn ly hôn. Bà ấy nhằm như chẳng biết nhiều về luật hôn nhân và gia đình; nhưng có nhiều chi tiết về cuộc sống vợ chồng của họ. Bà ta kể cho bạn hàng loạt sự kiện và nói muốn ly dị. Nghe xong, bạn sẽ phải phân tích những sự kiện ấy, chọn ra các sự kiện chứng minh “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” vốn được quy định trong luật để trả lời cho bà kia là có thể ly hôn được không. Bạn phân tích các sự kiện và chiếu chúng vào luật pháp nhằm đưa ra kết luận; kết luận của bạn dựa trên luật pháp.

Vậy, bạn thấy cán bộ pháp chế nắm luật trước, nắm sự kiên sau; còn luật sư thì làm ngược lại, nắm sự kiện trước, nắm luật sau.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập