NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Giới thiệu chung:

Đối với sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau, vấn đề về các quy tắc xử sự là điều tất yếu và luôn luôn được đặt ra giữa các quốc gia. Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN cũng không ngoại lệ. Để làm rõ vấn đề đang nói trên, bạn có thể tham khảo nội dung sau:

Bình luận về quan điểm: “TAC không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước Đông Nam Á mà còn là những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước Đông Nam Á với các nước ngoài khu vực”.

Với mong muốn thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực thông qua việc tôn trọng công lý và luật pháp và nâng cao khả năng tự cường khu vực của các nước ASEAN, khẳng định các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, tiến bộ, phồn vinh và phúc lợi của nhân dân các nước thành viên và cam kết mở rộng hợp tác ASEAN trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất tại Bali, In-đô-nê-xi-a, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) đã được các Nhà lãnh đạo ký thông qua ngày 24 tháng 02 năm 1976. Hiệp ước gồm 5 chương, 20 điều, nêu mục đích, nguyên tắc, cam kết của các quốc gia thành viên duy trì quan hệ thân thiện, hợp tác và giải quyết hòa bình các tranh chấp.

2. TAC với vai trò là bộ quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước Đông Nam Á:

2.1 Khái quát chung về nội dung của bộ quy tắc:

Hiệp ước TAC ra đời như một bộ quy tắc xử sự giữa các quốc gia Đông Nam Á, nó nêu ra mục tiêu, những nguyên tắc và cách thức thực hiện, các biện pháp, phương thức giải quyết, cơ chế giải quyết tranh chấp trong khu vực Đông Nam Á để đảm bảo hòa bình và an ninh khu vực.

Theo đó, Điều 2 của Hiệp ước này quy định về các nguyên tắc cơ bản của Hiệp ước mà các quốc tham gia ký kết phải tuân thủ: Một là, cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các Quốc gia. Hai là, quyền của mọi Quốc gia được tồn tại mà không có sự can thiệp, lật đổ hoặc áp bức của bên ngoài. Ba là, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Bốn là, giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. Năm là, từ bỏ việc đe doạ hoặc sử dụng vũ lực. Sáu là, hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.

Các bên tham gia hiệp ước thể hiện quyết tâm và thiện chí ngăn không để xảy ra tranh chấp, luôn đề cao ổn định, an ninh khu vực, thiết lập một cộng đồng thịnh vượng và hòa bình trong khu vực Đông Nam Á. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp và phát sinh các vấn đề về tác động trực tiếp đến họ, các bên tham gia hiệp ước sẽ kiềm chế không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực và sẽ luôn giải quyết các tranh chấp với nhau thông qua thương lượng hữu nghị (Điều 13 TAC), thông qua trung gian, điều tra và hòa giải, hội đồng cấp cao có thể đứng ra làm trung gian, hoặc theo sự thoả thuận của các bên tranh chấp, hoạt động như một Uỷ ban trung gian, điều tra hoặc hoà giải. Khi cần thiết, Hội đồng cấp cao sẽ khuyến nghị những biện pháp thích hợp để ngăn không cho tranh chấp hoặc tình hình đó xấu đi (Điều 15 TAC).

2.2 Nhận định:

Từ đó có thể thấy được, TAC ra đời, thể hiện được những quy tắc xử sự chung mà các thành viên của ASEAN trong tất cả các lĩnh vực từ lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, kỹ thuật, khoa học và hành chính, cũng như trong các vấn đề về lý tưởng chung, nguyện vọng về hoà bình quốc tế, sự ổn định trong khu vực, tất cả các vấn đề khác mà các bên cùng quan tâm. Các bên tham gia phải cam kết thực hiện được nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở khu vực để tăng cường nền tảng cho một cộng đồng thịnh vượng và hoà bình của các dân tộc ở Đông Nam Á, đạt được công bằng xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân các nước trong khu vực. Bên cạnh việc tăng cường hợp tác kinh tế thì các bên tham gia cũng sẽ không tham gia bất kỳ một hoạt động nào gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của các quốc gia thành viên. Đồng thời, các bên tham gia sẽ phấn đấu để tăng khả năng tự cường quốc gia dựa trên nguyên tắc tự tin, tự lực cánh sinh của mỗi quốc gia. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 12 của Hiệp ước: “Trong cố gắng nhằm đạt được sự phồn vinh và an ninh của khu vực, các Bên tham gia Hiệp ước sẽ nỗ lực hợp tác với nhau về mọi mặt để đẩy mạnh tự cường khu vực, dựa trên những nguyên tắc tự tin, tự lực cánh sinh, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác và đoàn kết, cơ sở cho một cộng đồng hùng mạnh và có thể tồn tại được của các dân tộc ở Đông Nam Á”. Từ khi Hiệp ước ra đời mới có 5 thành viên của khu vực Đông Nam Á tham gia, cho đến hiện nay thì tất cả các thành viên của Đông Nam Á đều đã tham gia. Chứng tỏ rằng các nước trong khu vực Đông Nam Á đều đồng ý và tự nguyện thực hiện các nguyên tắc, mục tiêu và định hướng của ASEAN đề ra trong hiệp ước này thể hiện được tầm quan trọng và ảnh hưởng của TAC trong khu vực.

3. TAC với vai trò là những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước Đông Nam Á với các nước ngoài khu vực:

Ra đời vào năm 1976, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) thường được coi là một bộ quy tắc ứng xử không chính thức chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, trong đó nhấn mạnh các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Nhằm biến nó thành một bộ quy tắc ứng xử chung cho cả quan hệ giữa ASEAN với bên ngoài, qua đó góp phần củng cố hòa bình, an ninh trong khu vực, ASEAN đã quyết định mời thêm các nước bên ngoài tham gia. Tuy nhiên, tham gia TAC không có nghĩa là ASEAN muốn ràng buộc các bên vào những quy định pháp lý chặt chẽ, các cơ chế cứng nhắc, mà quan trọng hơn là tạo cho bên tham gia một ý thức, thái độ và cách hành xử có trách nhiệm, phù hợp với những đặc điểm văn hóa, lịch sử riêng trong khu vực. ASEAN cũng nhiều lần tuyên bố việc tham gia TAC sẽ không làm ảnh hưởng đến các cam kết, thỏa thuận an ninh song phương giữa bên tham gia với bên thứ 3.

Trước hết, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở các nước Đông Nam Á đã gửi đi tín hiệu thân thiện, hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực, kêu gọi các quốc gia trong khu vực cùng hợp tác vì hòa bình, an ninh chung của khu vực, giải quyết xung đột, tranh chấp bằng đàm phán hòa bình thông qua quy định tại Điều 18: Hiệp ước này sẽ để ngỏ cho các nước khác ở Đông Nam Á tham gia, trong đó nước Cộng hoà In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Cộng hoà Phi-lip-pin, Cộng hoà Xing-ga-po và Vương quốc Thái Lan đã tham gia ký kết. Các Quốc gia ngoài Đông Nam Á cũng có thể tham gia Hiệp ước này với sự đồng ý của tất cả các Quốc gia đã ký Hiệp ước này và Bru-nây Đa-ru-xa-lam. Đây là một quy định “mở” để thiết lập quan hệ hợp tác về quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội với các nước ngoài khu vực Đông Nam Á góp phần tăng cường hòa bình, ổn định trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà sáng lập ra ASEAN dự liệu rằng, muốn phát triển đến một tầm cao mới, thể hiện được vai trò, tầm quan trọng của Hiệp hội các nước ASEAN trên trường quốc tế cần hợp tác không chỉ với các quốc gia trong khu vực mà còn cần phải có quan hệ hợp tác với các quốc gia khác ngoài khu vực. Tiếp đó, cùng với quá trình ASEAN mở rộng quan hệ đối ngoại của ASEAN, các đối tác của ASEAN đã lần lượt tham gia vào Hiệp ước TAC, Hiệp ước đã được sửa đổi 3 lần: lần thứ nhất vào ngày 15 tháng 12 năm 1987 bằng Nghị định thư mở rộng văn kiện cho các quốc gia ngoài Đông Nam Á tham gia vào TAC; lần thứ hai vào ngày 25 tháng 07 năm 1998 với Nghị định thư quy định sự đồng thuận cần thiết của tất cả các quốc gia thành viên ASEAN để các quốc gia ngoài ASEAN có thể tham gia TAC; và lần thứ ba vào ngày 23 tháng 07 năm 2010 bằng Nghị định thư cho phép các tổ chức quốc tế/khu vực, trong đó có Liên minh châu Âu EU tham gia TAC.

Khi mở rộng văn kiện để các quốc gia, cũng như các tổ chức quốc tế, khu vực tham gia vào TAC cũng có nghĩa ASEAN khẳng định rằng, muốn hợp tác với ASEAN thì phải tôn trọng các nguyên tắc/ quy tắc xử sự chung của các quốc gia khu vực Đông Nam Á để đảm bảo phát triển kinh tế, an ninh khu vực ổn định, hòa bình. Đặc biệt, khi một quốc gia muốn tham gia vào diễn đàn khu vực ASEAN - ARF thì bắt buộc phải tham gia TAC. Theo đó, hiện nay có 32 quốc gia, tổ chức tham gia diễn đàn ARF thì tất cả các thành viên này đều đã tham gia TAC, trong đó ngoài 10 nước ASEAN, các quốc gia khác cũng đã tham gia: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Canada, Liên minh châu Âu (EU), Papua New Guinea, Mông Cổ, Triều Tiên, Pakistan, Srilanka, Bangladesh, và Đông Ti-mo,…Như vậy, có thể thấy rằng nếu các quốc gia ngoài khu vực Đông Nam Á, các tổ chức quốc tế/ khu vực khi hợp tác với ASEAN thì phải tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), xem như là một cách ứng xử của các quốc gia bên ngoài Đông Nam Á cũng như các tổ chức quốc tế về có trách nhiệm và ý thức thực hiện tốt các quy định cũng như các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế, giải quyết tranh chấp, an ninh khu vực.

4. Kết luận:

Qua phân tích trên, có thể khẳng định lại một lần nữa rằng Hiệp ước Thân thiện và Hơp tác ở các nước Đông Nam Á (TAC) không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước Đông Nam Á mà còn là những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước Đông Nam Á với các nước ngoài khu vực. Nó đánh dấu một bước phát triển lớn của các nước Đông Nam Á với việc mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia khác ngoài khu vực góp phần giúp khu vực Đông Nam Á ngày càng phát triển, hòa bình và ổn định hơn.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê