1. Khái quát về khu vực Đông Nam Á:
Khu vực Đông Nam Á nằm thuộc phía Đông Nam của Châu Á. Nó nằm ở phía Đông của Tiểu Lục địa Ấn Độ, phía Bắc của Úc và phía Nam của Trung Quốc. Đồng thời nằm giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Khu vực Đông Nam Á có bao nhiêu quốc gia là câu hỏi của không ít người. Hiện tại khu vực này có 11 quốc gia với diện tích rơi vào khoảng 4.500.000 km2. Diện tích của Đông Nam Á chiếm 10,5 % Châu Á và chiếm 3% tổng diện tích đất của cả trái đất.
Đông Nam Á gồm những nước nào?
11 nước khu vực Đông Nam Á hiện nay được chia làm 2 nhóm: Nhóm các nước Đông Nam Đại Lục (hay còn được gọi là các nước Đông Dương) bao gồm các nước là: Lào, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Myanmar và phía Tây Malaysia. Nhóm các nước Đông Nam Á biển (hay còn được gọi là các nước Đông Ấn) bao gồm: Đông Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore, Brunei, Đông Timor. Dân số Đông Nam Á Theo thống kê thì dân số của Đông Nam Á hiện nay là 673.007.458 người. Số liệu này được thống kê vào 04/03/2021 theo số liệu của Liên Hợp Quốc. Tổng dân số hiện tại của các nước trong khu vực Đông Nam Á chiếm 8, 57% dân số của thế giới và đứng thứ 3 về dân số ở Châu Á. Mật độ dân số hiện tại của khu vực này là 155 người/km². Dân số của Đông Nam Á hiện nay thuộc vào dân số trẻ, có số lượng người thuộc độ tuổi lao động cao. Do đó tại khu vực này có nguồn lao động dồi dào tuy nhiên trình độ còn hạn chế. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề việc làm cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống tại nơi đây.
Diện tích các nước Đông Nam Á Như chúng ta đã biết danh sách các nước Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia là: Lào, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines, Brunei, Đông Timor. Diện tích của các nước này lần lượt như sau:
- Indonesia: 1.910.931 Km²
- Myanmar: 676.578 Km²
- Thái Lan: 513.120 Km²
- Việt Nam: 331.212 Km²
- Malaysia: 330.803 km²
- Philippines: 300.000 Km²
- Lào: 236.800 Km²
- Campuchia: 181.035 Km²
- Đông Timor: 14.874 km²
- Brunei: 5.765 Km²
- Singgapore: 705 Km²
* Đặc điểm tự nhiên Đông Nam Á:
Như ở trên chúng ta đã biết Đông Nam Á được chia làm 2 phần đó là Khu vực Đông Nam Á lục địa và khu vực Đông Nam Á biển đảo. Ở mỗi phần sẽ có những đặc điểm tự nhiên khác nhau. Cụ thể thể là Đông Nam Á lục địa: Địa hình của ở đây có sự chia cắt mạnh do các dãy núi chạy dọc theo hướng Bắc Nam hoặc Tây Bắc – Đông Nam. Xen giữ các dãy núi là những thung lũng rộng lớn. Đồng thời ven biển tại đây có các đồng bằng phù sa vô cùng màu mỡ. Kiểu khí hậu ở của Đông Nam Á lục địa là kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Tại đây rất giàu tài nguyên khoáng sản như quặng thiếc, đồng, khí đốt, than đá, kẽm, dầu mỏ Đông Nam Á biển đảo Tại đây có nhiều đảo và núi lửa. Số lượng sông lớn ít nên có rất ít đồng bằng lớn. Khí hậu của Đông Nam Á biển đảo là kiểu khí hậu xích đạo và nhiệt đới ẩm. Tại nơi đây cũng rất giàu tài nguyên khoáng sản như than đá, thiếc, dầu mỏ, đồng. Đặc điểm nền kinh tế các nước Đông Nam Á thì nhìn chung nền kinh tế của Đông Nam Á đang phát triển khá nhanh, tuy nhiên chưa vững chắc. Thời thuộc địa, nơi đây có nền kinh tế lạc hậu. Nền kinh tế của khu vực này thời ấy chỉ tập chung vào 2 lĩnh vực đó là sản xuất lương thực và phát triển khai khoáng để cung cấp cho các nước đế quốc. Ngày nay, việc sản xuất và xuất khẩu nguyên liệu vẫn giữ một vị trí lớn trong nền kinh tế của nhiều nước Đông Nam Á. Nền kinh tế của các nước thuộc Đông Nam Á đang phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên thì nền kinh tế của các nước Đông Nam Á chưa vững chắc. Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực này không đều. Đồng thời môi trường hiện chưa được chú ý và bảo vệ đúng mức trong quá trình phát triển kinh tế.
2. Vì sao khu vực Đông Nam Á trở thành đối tượng xâm lược của các nước tư bản Phương Tây?
Đông Nam Á là một khu vực khá rộng, bao gồm nhiều nước trên lục địa và hải đảo. diện tích khoảng 4,5 triệu km2, ngày nay có số dân hơn 500 triệu người ; các dân tộc có nền văn hóa truyền thống rực rỡ. Đông Nam Á nằm trên đường hàng hải từ Tây sang Đông, nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Đây là khu vực giàu tài nguyên : lúa gạo, cây hương liệu, động vật, khoáng sản..., có nguồn nhân công rẻ và thị trường tiêu thụ lớn.
2.1. Nguyên nhân khách quan
- Các nước tư bản thực dân (cụ thể là Pháp) đang trong quá trình phát triển chủ nghĩa đế quốc mạnh mẽ, cần nguyên liệu, thị trường, thuộc địa,... nên đang tích cực đẩy mạnh xâm lược thuộc địa.
2.2. Nguyên nhân chủ quan
- Vị trí địa lí: Các nước Đông Nam Á có vị trí địa lí vô cùng quan trọng.
- Nằm trên đường hàng hải từ Tây sang Đông, nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.
- Là cửa ngõ để đi vào lục địa châu Á rộng lớn.
- Tài nguyên, thiên nhiên: Là khu vực giàu tài nguyên như: lúa gạo, cây hương liệu, động vật, khoáng sản,…
- Dân cư: Có nguồn nhân công rẻ mạt và thị trường tiêu thụ rộng lớn.
- Chính trị - xã hội: Chế độ phong kiến ở các nước Đông Nam Á đang suy yếu, xã hội khủng hoảng.
3. Phong trào đấu tranh vũ trang của các quốc gia Đông Nam Á từ thế kỷ XVI đến những năm cuối thế kỷ XIX:
Ngay từ khi thực dân phương Tây xâm nhập và xâm lược, nhân dân Đông Nam Á đã vùng dậy đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ đất nước. Cuộc đấu tranh giữ đất, giữ làng diễn ra bền bỉ, liên tục, kiên cường, lớp trước ngã xuống, lớp sau nối tiếp tiến lên, kiên quyết đánh giặc cho dù phải hy sinh cả tính mạng; tất cả vì một mục tiêu chiến đấu cho dân tộc sinh tồn. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, cuộc đấu tranh mới ở giai đoạn khởi đầu, đặt nền móng cho những bước tiến của giai đoạn sau. Trước khi người Âu châu đến "gõ cửa", các nước Đông Nam Á đang ở trong tình trạng thấp kém, lạc hậu cách xa rất nhiều lần so với phương Tây. Nhưng khi bị xâm lược, các quốc gia Đông Nam Á đều tiến hành kháng cự để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Những cuộc kháng cự đó có khi là do nhà nước phong kiến tiến hành, có khi do một hoàng thân lãnh đạo, nhưng cũng có khi do chính nhân dân tự động tiến lên khi tổ quốc bị xâm lăng.
Khi thực dân phương Tây xâm lược, các nhà nước phong kiến ở Đông Nam Á đã cùng với nhân dân đứng lên kháng chiến chống xâm lược. Nhưng đến khi các vương triều và giai cấp phong kiến đầu hàng thực dân thì nhân dân đã tự động đứng lên chống xâm lược và chống luôn cả giai cấp phong kiến nhu nhược đầu hàng. Mặc dù không có sự lãnh đạo của chính quyền, nhưng cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của nhân dân tỏ ra rất anh dũng, quả cảm, mang lòng yêu nước sâu sắc. Tuy nhiên, các cuộc chiến đấu ấy đều ở trong trạng thái thiếu tổ chức, thiếu đường lối lãnh đạo đúng đắn. Các cuộc chiến tranh của nhân dân Indonesia chống Bồ Đào Nha và Hà Lan dưới sự lãnh đạo của Tơrunô Giôgiô, của Đipônêgôrô, cuộc kháng chiến của nhân dân Achê, cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ở các địa phương Đà Nẵng, Quảng Nam, Gia Định và những cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kỳ dưới sự lãnh đạo của Trương Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực...Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân Khơ Me dưới sự lãnh đạo của hoàng thân Sivôtha, của AchaSoa, của Pôcumbô; những cuộc chống trả quân Anh của quân đội Miến Điện do Mahabanđula chỉ huy và những cuộc kháng cự sau đó của nhân dân Miến Điện; các cuộc nổi dậy chống Tây Ban Nha của các tiểu vương và các bộ lạc ở Cebu, ở Manila, ở các đảo Luxông, Xamara, Lâyetta của Philippin… mang những sắc thái khác nhau nhưng đều chung mục đích chống xâm lược, bảo vệ độc lập và chịu chung một kết cục là bị đàn áp thất bại.
Quá trình đấu tranh chống xâm lược của nhân dân các nước Đông Nam Á diễn ra không cùng thời điểm cụ thể, không giống nhau về hình thức, lại khác về phương pháp đấu tranh, nhưng lại có điểm chung, thống nhất ở mục tiêu: ngăn chặn quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân, cố gắng bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Trong quá trình xâm lược, thực dân phương Tây vấp phải sự kháng cự kéo dài và kiên cường, liên tục của nhân dân từng nước. Ngay trong một nước cuộc kháng cự này thất bại, cuộc khởi nghĩa khác lại nổi lên, người trước ngã xuống, người sau tiến lên, kiên quyết đánh đuổi quân xâm lược. Ở Campuchia, cuộc chiến đấu do hoàng thân Sivôtha tổ chức đang tiếp diễn thì cuộc khởi nghĩa do Acha Soa lãnh đạo đã bùng lên. Khi Acha Soa bị bắt, cuộc khởi nghĩa không tan rã mà nó được tiếp sức bằng cuộc nổi dậy của nghĩa quân Pô cum Bô. Ở Việt Nam, cuộc xâm lăng của thực dân Pháp bị sự tấn công liên tục và khắp nơi của nhân dân yêu nước. Từ Đà Nẵng, Quảng Nam cho tới Gia Định, Cần Thơ, Đồng Tháp Mười… đều vấp phải phong trào kháng Pháp của nhân dân. Ở Miến Điện, ba lần tiến hành chiến tranh là cả ba lần thực dân Anh gặp phải sự chống cự quyết liệt của quân đội triều đình. Sau khi quân triều đình thất bại, thì nhân dân khắp cả nước vùng lên chống lại thực dân Anh bằng cuộc chiến tranh du kích bền bỉ, anh dũng làm cho quân giặc khiếp sợ.
Phong trào đấu tranh vũ trang của các quốc gia Đông Nam Á từ thế kỷ XVI đến những năm cuối thế kỷ XIX thực sự tạo thành một sức mạnh to lớn, bước đầu làm chậm bước tiến của thực dân phương Tây, không những thế còn làm cho đội quân xâm lược nhà nghề nhiều phen kinh sợ, hàng ngàn binh lính thực dân đã phải bỏ mạng tại nơi đây. Phong trào là sức mạnh của sự đoàn kết quân dân, nhiều giai tầng trong xã hội, mặc dù bị thất bại, nhưng nó tạo cơ sở cho các phong trào đấu tranh thời kỳ sau phát triển mạnh mẽ và giành được thắng lợi hoàn toàn. Các cuộc đấu tranh chống lại thực dân phương Tây do người nông dân lãnh đạo, hay do một nhà sư, một trí thức phong kiến, một hoàng thân hoặc một thủ lĩnh bộ lạc đứng đầu, thì tất cả đều chung một mục tiêu bảo vệ cho kỳ được đất nước, giữ cho kỳ được xóm làng quê hương không để rơi vào tay giặc.
Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích đối với quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!