- 1. Khái quát về tài sản theo BLDS 2015
- 1.1 Tiền
- 1.2 Giấy tờ có giá
- 1.3 Quyền tài sản
- 4. Tiến bộ của BLDS 2015 về tài sản và phân loại tài sản
- 5. Bất cập trong quy định của BLDS 2015 về phân loại tài sản và định hướng
- 6. Câu hỏi thường gặp về tài sản, phân loại tài sản
- 6.1 Dựa vào đặc tính vật lý, tài sản được chia thành?
- 6.2 Dựa vào thời điểm hình thành tài sản, xác lập quyền sở hữu tài sản phân thành?
- 6.3 Dựa vào mối quan hệ sản sinh, phân tài sản thành hai loại là?
1. Khái quát về tài sản theo BLDS 2015
Tài sản trước hết là điều kiện vật chất để nuôi sống con người (lương thực, thực phẩm), tài sản còn là các vật chất khác do con người tạo ra, chiếm hữu và sử dụng được nhằm để duy trì, bảo vệ cuộc sống và phát triển (nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và các vật phẩm khác,…). Như vậy, tài sản là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến trong xã hội có tư hữu, có nhà nước và có pháp luật. Theo từ điển Tiếng Việt, tài sản là của cải hoặc tinh thần nói chung có trong quyền sở hữu của mình
Bộ luật dân sự năm 2015 nêu khái niệm tài sản như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” (Khoản 1 Điều 105). Theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015, tài sản bao gồm các loại đó là: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm giác được bằng các giác quan của mình. Tuy nhiên, không phải vật nào trong thế giới khách quan cũng đều là vật trong quan hệ pháp luật dân sự. Khái niệm vật trong Bộ luật dân sự dùng để chỉ những vật mà con người có thể chiếm hữu được, chi phối được, có thể cân, đo, đong đếm, xác định được bề rộng, bề dài, theo sự tồn tại và vật hình thành trong tương lai và con người phải khai thác được, sử dụng được phục vụ cho lợi ích của mình. Như vậy, ngoài yếu tố là bộ phận của yếu tố vật chất, đáp ứng được nhu cầu của con người, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Xét về mặt vật lý, vật chất tồn tại dưới ba dạng: rắn, lỏng, khí.
Xét theo cấu tạo hóa, lý, sinh và công dụng của vật thì: vật còn được xác định là vật chính và vật phụ (Điều 110, ví dụ: điện thoại là vật chính, vỏ ốp của chiếc điện thoại đấy là vật phụ), vật chia được và vật không chia được (Điều 111, ví dụ: gạo, xăng, dầu là những vật chia được; giường, tủ, bàn là những vật không chia được), vật tiêu hao và vật không tiêu hao (Điều 112, ví dụ: xà phòng qua một lần sử dụng bị giảm trọng lượng là vật tiêu hao; ngôi nhà, chiếc xe ô tô là vật không tiêu hao), vật cùng loại và vật đặc định (Điều 113, ví dụ: gạo, sữa là vật cùng loại còn bức tranh nàng Monalisa có chữ kí tác giả là vật đặc định), vật đồng bộ (Điều 114, ví dụ: đôi giày). Cách phân loại vật trong Bộ luật dân sự là căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là vật trong việc chuyển giao, đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp có đối tượng là vật phát sinh từ các quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng dân sự cụ thể.
Xét về chế độ pháp lý, vật được phân loại là: vật tự do lưu thông (vật lưu thông không cần điều kiện, được tự do mua bán, thuê, mượn, tặng cho,… và là giao dịch của các giao dịch dân sự), vật hạn chế lưu thông (vật khi lưu thông cần điều kiện về chủ thể, hình thức, thủ tục,… nhất định. VD: dược phẩm) và vật cấm lưu thông (là những vật tuyệt đối không được lưu thông dân sự. VD: ma túy).
1.1 Tiền
Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế. Tiền có các chức năng như trao đổi, thanh toán, dự trữ và khi xét về mặt chủ quyền quốc gia thì tiền có chức năng bình ổn giá cả và giữ chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, chỉ có tiền mệnh giá Việt Nam đồng (VNĐ) mới được lưu thông trong giao dịch dân sự Việt Nam.
1.2 Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Theo Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, giấy tờ có giá là trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu,… Tuy nhiên, các loại giấy tờ như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, sổ hưu trí, sổ tiết kiệm, giấy biên một khoản nợ không phải là giấy tờ có giá; chỉ có tài khoản dư trong ngân hàng hay cơ sở quỹ tiết kiệm mới là tài sản.
1.3 Quyền tài sản
Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền tài sản như sau: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Khái quát hơn, quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền, có thể chuyển giao được trong quan hệ pháp luật dân sự.
Ví dụ: Quyền sáng chế, phát minh ra máy gặt lúa, xe lăn cho người tàn tật, giống cây trồng, vật nuôi mới… được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ.
Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phả có quy chế pháp lý điều chỉnh riêng. Chính vì vậy, việc phân loại tài sản là cần thiết không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động lập pháp mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Bộ luật dân sự năm 2015 dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tài sản.
4. Tiến bộ của BLDS 2015 về tài sản và phân loại tài sản
Để bảo đảm tính bao quát, minh bạch, công khai, huy động và phát huy được hết các nguồn lực vật chất trong xã hội, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về tài sản bao gồm bất động sản và động sản; tài sản có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác.
Loại tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai đã manh nha tồn tại trong Bộ luật dân sự năm 2005. Nhưng Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ có một vài quy định đơn lẻ ghi nhận các tài sản hình thành trong tương lai trong phần “bảo đảm” thực hiện nghĩa vụ dân sự chứ không có trong phần những quy định chung. Việc đưa hai loại tài sản này vào phần những quy định chung là thuyết phục, đảm bảo tính khái quát cũng như phạm vi áp dụng của các loại tài sản này. Nếu không có sự phân loại trong Bộ luật dân sự thì sẽ không hiểu được khái niệm tài sản.
Tuy nhiên, nhìn chung, các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về tài sản và cách phân loại tài sản không có gì khác mấy so với các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về tài sản và cách phân loại tài sản.
5. Bất cập trong quy định của BLDS 2015 về phân loại tài sản và định hướng
Trước hết, về khái niệm tài sản, Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tài sản còn mang tính chất liệt kê, chưa chỉ ra được nội hàm của khái niệm tài sản và đặc biệt là chưa khái quát hết được tất cả các loại tài sản trong đời sống kinh tế, dân sự. Ví dụ như: các tài sản liên quan đến lĩnh vực khoa học công nghệ. Trong phần phân loại tài sản không đề cập gì tới tiền và giấy tờ có giá. Ngoài ra, còn có một loại tài sản chưa được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 đó là điện. Điện là một dạng vật chất gắn liền với tương tác điện tử. Điện là một loại tài sản dùng trong sinh hoạt, được sử dụng một cách rộng rãi và tác động đến nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, điện lại không nằm trong một loại nào trong khái niệm tài sản được liệt kê. Đây là một bất cập của Bộ luật dân sự năm 2015.
Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015 khi quy định về bất động sản và động sản như một sự kế thừa các quy định trước đây mà không có thêm nội dung mới hay tiến bộ, chưa dự liệu đến các trường hợp liên quan đến nhà theo quan niệm mới và theo sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật cũng như sự hiện đại hóa của cuộc sống. Công nghệ trong việc xây dựng nhà, nhà ở, nhà hàng, nhà thủy tạ có thể không gắn liền với đất đai, mà chúng lại trôi nổi trên sông. Trên thực tế, ở Đồng bằng sông Cửu Long hay những vùng ven biển Hà Tĩnh, người dân xây dựng những ngôi nhà bè, những nhà hàng trên biển được dùng vào việc ở và kinh doanh,… Vậy, một câu hỏi đặt ra rằng: khi xảy ra tranh chấp thì loại tài sản này được điều chỉnh theo quy định của Bộ luật dân sự về loại tài sản nào trong số các loại tài sản đã quy định?
Ngoài ra, khoản 1 Điều 107 chưa khái quát hết được các loại tài sản cũng là bất động sản như khoáng sản trong lòng đất, cây lâu năm, mùa màng chưa thu hoạch. Những loại tài sản này cũng là loại tài sản gắn liền với đất đai. Vì thế, cần bổ sung thêm một điểm hoặc một khoản nhỏ trong điều luật về bất động sản để có thể bao quát và điều chỉnh được các loại tài sản nêu trên. Thêm vào đó, ở Việt Nam chưa có thói quen đăng ký cây lâu năm, cây cổ thụ và chưa có thói quen đóng bảo hiểm cho chúng. Việc đăng ký cho các cây nói trên giúp cho các tài sản này được bảo vệ bởi pháp luật.
Điểm hạn chế của Bộ luật dân sự năm 2015 khi phân loại tài sản thành tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai đó là: mặc dù khi quy định tài sản hình thành trong tương lai là “tài sản đã hình thành” nhưng lại phải phụ thuộc vào thực trạng “nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”? Tuy nhiên, nếu chủ thể không xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch thì “tài sản đã hình thành” có vẫn được coi là tài sản hình thành trong tương lai hay không? Thiết nghĩ, cần sớm ban hành một nghị định quy định chi tiết hướng dẫn về vấn đề trên để tranh tình trạng hiểu sai luật. Còn một vấn đề ở quy định này đó là tính thiếu thống nhất giữa các văn bản luật với nhau. Trong khi quy định của Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tài sản hình thành trong tương lai gồm cả tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm giao dịch, thì theo Luật nhà ở 2014 và Luật kinh doanh bất động sản 2014 quy định rằng đối với những trường hợp nhà ở, công trình xây dựng đã hoàn thành việc xây dưng và đưa vào sử dụng nhưng chủ thể chưa xác lập quyền sở hữu thì không được xem là nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai mà xem là nhà ở, công trình xây dựng có sẵn.
Dường như sự mở rộng loại hình tài sản này có vẻ hơi quá mức cần thiết khi không hề có bất kỳ điều kiện nào để xác định giới hạn cho tài sản hình thành trong tương lai. Điều này tạo tự do nhưng sẽ gây khó khăn cho các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự trong việc xác định liệu một đối tượng có khả năng được coi là tài sản hình thành trong tương lai hay không khi khả năng tài sản này hình thành trong tương lai là không cao. Thiết nghĩ, cần có thêm những văn bản hướng dẫn cụ thể điều kiện để xác định các loại tài sản hình thành trong tương lai.
6. Câu hỏi thường gặp về tài sản, phân loại tài sản
6.1 Dựa vào đặc tính vật lý, tài sản được chia thành?
Căn cứ vào tính chất của tài sản, BLDS 2015 chia tài sản thành động sản và bất động sản. Khoản 2 Điều 105 BLDS 2015 quy định như sau: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản …”. Khái niệm bất động sản và động sản được quy định tại Điều 107 BLDS 2015 như sau:
“1. Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật;
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”.
6.2 Dựa vào thời điểm hình thành tài sản, xác lập quyền sở hữu tài sản phân thành?
Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành: tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Điều 108 BLDS 2015 quy định về tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai như sau:
“1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch;
2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”
6.3 Dựa vào mối quan hệ sản sinh, phân tài sản thành hai loại là?
Căn cứ vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản mà tài sản có thể được phân thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức. Điều 109 BLDS 2015 định nghĩa về hoa lợi, lợi tức như sau:
“1. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại;
2. Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”.