1. Phân loại theo đặc tính vật lý  

Dựa vào đặc tính vật lý (có thể di dời được), phân tài sản thành bất động sản và động sản.

Căn cứ vào tính chất của tài sản, BLDS 2015 chia tài sản thành động sản và bất động sản. Khoản 2 Điều 105 BLDS 2015 quy định như sau: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản …”. Khái niệm bất động sản và động sản được quy định tại Điều 107 BLDS 2015 như sau:

1. Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật;

2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”.

Cũng giống như cách định nghĩa tài sản , BLDS đã sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩa bất động sản. Các tài sản là bất động sản là đất đai và những tài sản là nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai và tính chất của các loại tài sản này là không di chuyển được về mặt cơ học (có thể hiểu cụ thể là nếu tách dời những tài sản này khỏi đất thì chúng sẽ bị hư học hoặc không trở về trạng thái ban đầu được). Đất đai hiển nhiên là một loại tài sản không thể di dời. Những tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai đều là bất động sản. Loại tài sản thứ ba là những tài sản mà sự tồn tại của chúng không thể tách dời khỏi đất đai. Dựa vào đối tượng thì những vật quyền thuộc về bất động sản đó là quyền sở hữu, quyền dụng ích, quyền dùng và quyền ở, quyền cho thuê dài hạn, quyền địa dịch, quyền cầm cố bất động sản, quyền để đương và quyền đi kiện đòi một bất động sản.

Còn động sản là những tài sản mà không thuộc bất động sản. Theo tính chất của vật thì là những vật di dời được như: tàu, thuyền, nhà cửa tháo ra lắm vào mà không bị tổn hại gì,... Về vật quyền thì nó có thể là quyền đi kiện để đòi một động sản, quyền sở hữu các sản phẩm trí tuệ (văn học, khoa học, y học,...),…

Cách phân loại tài sản thành bất động sản và động sản chủ yếu dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không. Cách phân loại này là tiêu chí hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quy phạm điều chỉnh riêng đối với từng loại. Việc phân chia tài sản thành bất động sản và động sản có rất nhiều ý nghĩa bởi tài sản là công cụ quan trọng trong đời sống xã hội, nó liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như: thuế, thừa kế, giao dịch dân sự,… cũng như trong thực tiễn các thỏa thuận dân sự.

Việc xác định tài sản là động sản hay bất động sản là căn cứ xác lập thủ tục đăng kí tài sản. Khoản 1, 2 Điều 106 BLDS 2015 về đăng ký tài sản quy định:

1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản;

2.Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác”.

Như vậy, đối với động sản: chiếm hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu. Tuy nhiên, đối với tài sản là bất động sản thì đăng kí là biện pháp công khai các quyền về bất động sản. Để được công nhận là chủ sở hữu, người có tài sản là bất động sản phải thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu, từ đó chủ thể mới có bằng chứng để chứng minh mình là chủ sở hữu của tài sản.

Việc phân loại còn là căn cứ để xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với động sản và bất động sản, địa điểm thực hiện nghĩa vụ chuyển giao bất động sản, liên quan đến các giao dịch có đối tượng là bất động sản,...

Việc xác định tài sản là bất động sản hay động sản còn là căn cứ xác định các quyền năng của chủ thể đối với từng loại tài sản nhất định. Đối với động sản, chủ sở hữu là người có quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng. Người chủ sở hữu có thể ủy quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng cho người khác, hoặc chuyển một trong số các quyền này cho người khác thông qua giao dịch dân sự. Đối với bất động sản, với tính chất là tài sản gắn liền với đất đai, khó di dời và có giá trị sử dụng lớn, nên vấn đề chủ sở hữu, quyền sử dụng bất động sản được quy đinh rõ ràng và khác so với động sản. Đối với bất động sản là đất đai, pháp luật quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhưng chủ thể sử dụng trước tiếp đất đai lại là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình,… Những chủ thể này không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất đai. Đối với bất động sản do đặc tính của nó là không thể di dời nên việc thực hiện quyền năng của quyền sở hữu, sử dụng đối với loại tài sản này sẽ gặp những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, BLDS cũng đã ghi nhận cho các chủ sở hữu có những quyền năng nhất định đối với tài sản của người khác nếu là bất động sản. Cụ thể quy định ở các điều tại Mục 1 Chương XIV Phần thứ hai BLDS 2015.

 

2. Phân loại dựa vào hình tái tồn tại của tài sản

Có thể tài sản được phân thành tài sản vô hình và tài sản hữu hình.

Tài sản hữu hình (hay còn gọi là vật) là tất cả những gì tồn tại dưới dạng vật chất, dưới góc độ pháp lí, một vật có thực của thế giới vật chất và chỉ trở thành tài sản nếu nó được sở hữu hoặc có thể sở hữu được. Để có thể được sở hữu, vật với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Ví dụ như: tiền, xe ô tô, máy tính,.. Tài sản vô hình là tài sản không có hình dáng vật chất, không nhìn thấy được, không cầm nắm được. Thực chất, tài sản vô hình chính là các quyền tài sản, bao gồm quyền tài sản trên một tài sản hữu hình hay còn gọi là vật quyền hoặc có thể trên một tài sản vô hình khác và các trái quyền trị giá được bằng tiền. Ví dụ như: quyền sử dụng đối với đất nông nghiệp,…

Việc phân biệt tài sản vô hình và tài sản hữu hình có ý nghĩa trong việc định giá tài sản, việc quy định quyền và nghĩa vụ của các bên và cơ chế bảo vệ. Ví dụ như trong giao dịch dân sự với tài sản là quyền sử dụng nhà ở (hợp đồng thuê nhà) với giao dịch dân sự với tài sản là ô tô (mua – bán) thì quyền của các chủ thể được BLDS quy định là khác nhau cũng như có cơ chế bảo vệ khác nhau.

 

3. Dựa vào thời điểm hình thành tài sản và xác lập quyền sở hữu tài sản

Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành: tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Điều 108 BLDS 2015 quy định về tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai như sau:

1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch;

2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: a) Tài sản chưa hình thành; b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”.

Tài sản hiện có (tức là tài sản đang tồn tại hiện hữu trong thế giới khách quan) là tài sản đã hình thành và phải thỏa mãn điều kiện đó là: chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch (tức là chủ sở hữu của tài sản hiện có và chủ thể có quyền khác đối với tài sản đã được xác định trước hoặc có thể được xác định tại thời điểm xác lập giao dịch). Ví dụ về tài sản hiện có như: A là chủ sở hữu của một chiếc xe máy; thì chiếc xe máy đó chính là tài sản hiện có.

Căn cứ vào tính chất khách quan của tài sản thì tài sản được hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa hình thành, chưa có trong thế giới khách quan, chưa tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào theo quy định về tài sản tại Điều 105 BLDS 2015. Hoặc có thể hiểu tài sản được hình thành trong tương lai là tài sản đã tồn tại trong thế giới khách quan, tuy nhiên chủ thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản ấy sau thời điểm xác lập giao dịch. Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch đảm bảo, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc quyền sở hữu của bên dảm bảo. Ví dụ: Anh C ký hợp đồng mua bán nhà ở chung cư với ông D trong khi đó, căn hộ đó chưa được hoàn thiện thì căn hộ chung cư này được gọi là tài sản hình thành trong tương lai.

Khoản 2 Điều 105 BLDS 2015 quy định như sau:

Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.

Ví dụ về bất động sản hình thành trong tương lai: chung cư, căn hộ.

Ý nghĩa của cách phân loại tài sản thành tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai là: giúp cho người thực hiện các giao dịch đúng theo quy định của pháp luật hiện hành có liên quan. So với tài sản hiện có khi sử dụng tài sản hình thành trong tương lai cho các giao dịch còn gặp phải những rủi ro nhất định: như những vấn đề phát sinh trong giao dịch bảo đảm...Ví dụ, chủ đầu tư thế chấp đất và khu chung cư hình thành trong tương lai cho ngân hàng; đồng thời cho phép người mua căn hộ chung cư của chủ đầu tư đang trong quá trình xây dựng và đem thế chấp ngân hàng. Khi đó quyền lợi của ngân hàng nhận thế chấp tài sản hình thành trong tương lai từ chủ đầu tư dự án hay quyền lợi của ngân hàng nhận thế chấp căn hộ từ người mua căn hộ sẽ được pháp luật bảo vệ.

 

4. Dựa vào mối quan hệ sản sinh

Có thể phân tài sản thành hai loại là tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức.

Căn cứ vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản mà tài sản có thể được phân thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức. Điều 109 BLDS 2015 định nghĩa về hoa lợi, lợi tức như sau:

1. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại;

2. Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”.

Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Ví dụ như sau: A mua một con bò, 6 tháng sau con bò mang thai và sau đó đẻ ra một con nghé con; khi đó, con bò là tài sản gốc của A, còn con nghé chính là hoa lợi mà A nhận được từ tài sản gốc. Lợi tức là lợi ích vật chất của chủ thể thu được thông qua việc khai thác hợp pháp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình mà không phải là do tài sản tự sinh ra như: khoản tiền có được do thuê nhà, khoản lãi vay có được từ việc cho vay tài sản, hay một ví dụ thực tế như: A mua một căn nhà trị giá 500 triệu, sau một thời gian A bán căn nhà được khoản tiền là 1 tỷ, khi đó, 500 triệu thêm được chính là lợi tức,... Việc khai thác tài sản là quyền của chủ sở hữu. Như vậy, cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác, sử dụng tài sản gốc và chỉ được coi là hoa lợi, lợi tức nếu đã được tách ra từ tài sản gốc và không ảnh hưởng đến trạng thái ban đầu của tài sản gốc.

Việc phân loại tài sản theo cách này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ sở hữu tài sản (Điều 224 BLDS 2015), ý nghĩa của người chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không phải là chủ sở hữu hoặc trong các trường hợp phân chia tài sản cụ thể. Về phương diện quản lý tài sản, sự phân chia này có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư (nếu tài sản thu được là hoa lợi, lợi tức, thì nhà đầu tư được tự do trong việc thụ hưởng và tiêu dùng; nếu tài sản thu được là một sản phẩm, thì nhà đầu tư nên tái đầu tư để khôi phục khả năng sinh lợi của tài sản gốc).

 

5. Dựa vào quy chế pháp lý 

Tài sản được phân thành ba loại là tài sản cấm lưu thông, cụ thể:

Căn cứ vào chế định pháp lý của tài sản có thể chia tài sản thành ba loại: tài sản cấm lưu thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản tự do lưu thông. Lưu thông hiểu theo nghĩa kinh tế là lưu thông hàng hóa. Tài sản được làm ra do kết quả lao động nếu chỉ để dùng thì không phải là hàng hóa mà để trở thành hàng hóa thì chúng phải được đem ra trao đổi, mua bán. Nếu tài sản đó được chuyển từ người này sang người khác ngoài thị trường thì được hiểu là đưa tài sản vào khâu lưu thông.

Từ đó, tài sản cấm lưu thông là tài sản cấm mua bán, trao đổi trên thị trường. Các tài sản bị cấm lưu thông thường là những tài sản có vai trò to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, với an ninh quốc phòng nên nhà nước cấm mua bán, trao đổi. Đó là những tài sản đặc biệt thuộc quyền sở hữu nhà nước. Ví dụ như: vũ khí, đạn dược, ma túy,… Tài sản hạn chế lưu thông là những tài sản mà việc mua bán, trao đổi bị hạn chế. Tài sản hạn chế lưu thông bao gồm những tài sản có ý nghĩa quan trọng khác nhau trong nền kinh tế và quốc phòng, đòi hỏi Nhà nước phải thống nhất quản lý và kiểm soát việc lưu thông. Ví dụ như: dược phẩm,… Còn tài sản tự do lưu thông là cac tài sản được đem ra mua bán, trao đổi tự do trên thị trường, mà chủ yếu là những tài sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng. Ví dụ như: quần áo, giày dép,…

Việc phân loại tài sản thành ba loại như trên giúp cho việc xác lập các giao dịch dân sự nào là hợp pháp và giao dịch nào trái pháp luật. Ví dụ như: với những mặt hàng là chất ma túy, công an có quyền vào cuộc bởi đó là tài sản cấm lưu thông, người nào đưa ma túy vào các giao dịch dân sự sẽ cấu thành tội phạm của BLHS; còn đối với những mặt hàng là dược phẩm, quản lý thị trường được phép kiểm tra xem nguồn gốc, xuất xứ, đó có phải hàng giả, hàng kém chất lượng hay không,… sau đó mới đưa vào trong lưu thông, trong mua bán, cung cấp dịch vụ của bệnh viện,…; đối với tài sản tự do lưu thông như quần áo thì chủ thể được tự do nhập về bán.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)