Hiện nay, dự án PPP đang trở thành xu hướng phổ biến trong lĩnh vực đầu tư, nhưng bởi vì một bên là nhà nước, việc quy định về tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong các dự án này được áp dụng một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ. Vì vậy, quan tâm đặt ra là tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong dự án PPP được quy định như thế nào, và theo các quy định này thì tiến trình và thành tựu của dự án sẽ được đảm bảo như thế nào.

 

1. Vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong dự án PPP là gì?

Trong dự án PPP, vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được góp theo tiến độ thỏa thuận tại hợp đồng dự án, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật về doanh nghiệp. Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu sẽ đóng góp vào vốn Điều lệ của doanh nghiệp dự án, tuân thủ quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Trong trường hợp vốn Điều lệ của doanh nghiệp dự án thấp hơn cam kết vốn chủ sở hữu đã huy động, hợp đồng dự án phải đề ra lộ trình tăng vốn Điều lệ của doanh nghiệp dự án, phù hợp với tiến độ triển khai dự án. Tất cả những điều này đảm bảo tính pháp lý và sự cân đối cho các bên tham gia tổ chức và đầu tư trong dự án PPP.

 

2. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong dự án PPP là gì?

Cụ thể, nhà đầu tư chịu trách nhiệm đóng góp vốn chủ sở hữu và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện dự án theo hợp đồng dự án đã ký kết. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định như sau: Trong trường hợp dự án có tổng vốn đầu tư không quá 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư. Trong trường hợp dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định như sau: Với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 20%; với phần vốn từ trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 10%.

Trong dự án PPP, phần Nhà nước tham gia (vốn góp của Nhà nước) được sử dụng để hỗ trợ xây dựng công trình nhằm đảm bảo tính khả thi tài chính cho dự án. Vốn góp của Nhà nước được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công theo quy định của pháp luật về đầu tư công hoặc từ tài sản công theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản công. Tuy nhiên, vốn góp của Nhà nước từ nguồn vốn đầu tư công không áp dụng đối với dự án BT. Thêm vào đó, vốn hỗ trợ xây dựng công trình phụ trợ, chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư cũng được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công. Tuy nhiên, phần Nhà nước tham gia không tính vào tổng vốn đầu tư để xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu.

Đối với hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (hợp đồng BT), nhà đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu về vốn chủ sở hữu theo quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản và các pháp luật có liên quan để thực hiện các dự án khác.

 

3. Quy định đối với việc tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong dự án PPP

Theo quy định mới, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong dự án PPP đã được điều chỉnh so với quy định hiện hành. Đối với dự án có tổng vốn đầu tư lên đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không thể thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư, tăng 5% so với quy định hiện hành.

Đối với dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư sẽ được xác định theo nguyên tắc sau đây:

Với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không thể thấp hơn 20%, tăng 5% so với quy định hiện hành.

Với phần vốn từ trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không thể thấp hơn 10%.

Vốn góp của Nhà nước và vốn hỗ trợ xây dựng công trình phụ trợ, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư không được tính vào tổng vốn đầu tư để xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu.

 

4. Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư

Theo Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), có quy định chi tiết về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Theo đó, Quốc hội đưa ra quyết định chủ trương đầu tư cho các dự án quan trọng quốc gia (1). Còn Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư cho các dự án sau: Dự án nhóm A có sử dụng vốn ngân sách trung ương từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 300 tỷ đồng trong tổng vốn đầu tư của dự án; dự án nhóm A áp dụng loại hợp đồng BT (2).

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư dự án không thuộc các trường hợp (1), (2) đã nêu ở trên của bộ, ngành mình.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư cho các dự án sau: Dự án nhóm A không thuộc trường hợp quy định tại (2); dự án nhóm B sử dụng vốn đầu tư công; dự án nhóm B áp dụng loại hợp đồng BT (3).

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư cho các dự án không thuộc các trường hợp quy định tại (1), (2), (3) đã nêu ở trên của địa phương mình. Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định chủ trương đầu tư phải tuân thủ đúng quy định pháp luật và đảm bảo tính pháp lý trong quá trình thực hiện.

 

5. Một số điểm mới về tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong dự án PPP

Vào ngày 04/5/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/2018/NĐ-CP, một văn bản quy định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP). Nghị định này bao gồm nhiều nội dung quan trọng liên quan đến nguồn vốn, trình tự và thủ tục thực hiện dự án.

Để cụ thể hơn, quy trình thực hiện dự án theo PPP bao gồm các bước sau: lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, quyết định chủ trương đầu tư và công bố dự án; lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi; tổ chức lựa chọn nhà đầu tư; đàm phán, thành lập doanh nghiệp dự án, ký kết hợp đồng dự án và cuối cùng là triển khai thực hiện dự án, quyết toán và chuyển giao công trình.

(Đối với các dự án thuộc nhóm C, không yêu cầu lập và thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, nhưng phải công bố dự án sau khi báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt);

Tùy theo yêu cầu thực tế của dự án PPP, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư sau khi phê duyệt thiết kế kỹ thuật và dự toán, nhưng vẫn đảm bảo tính cạnh tranh rộng rãi trong quá trình đấu thầu. Các bộ, cơ quan ngang nghĩa hướng dẫn thực hiện nội dung này trong phạm vi quản lý của mình.

Đối với nguồn vốn thực hiện dự án, đối với dự án có tổng vốn đầu tư dưới 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư.

Đối với dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo nguyên tắc sau: Đối với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 20%; đối với phần vốn trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 10%. Phần vốn nhà nước tham gia trong dự án PPP không được tính vào tổng vốn đầu tư để xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu.

Đối với hợp đồng BT, nhà đầu tư phải đáp ứng thêm yêu cầu về vốn chủ sở hữu nếu có theo quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản và các pháp luật có liên quan để thực hiện các dự án khác.

Ngoài ra, Nghị định 63/2018/NĐ-CP cũng mở rộng phạm vi nguồn vốn được sử dụng làm phần Nhà nước tham gia thực hiện dự án, bao gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn ODA và vốn vay ưu đãi từ nhà tài trợ nước ngoài.

Việc thanh toán vốn cho nhà đầu tư trong các dự án theo hợp đồng BTL, BLT cũng được điều chỉnh mở rộng. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh trong việc sử dụng nguồn lực.

Ngoài ra, Nghị định 63/2018/NĐ-CP cũng điều chỉnh quy định về trình tự thực hiện dự án BT nhằm quản lý chặt chẽ chất lượng và giá trị công trình nhằm tránh thất thoát và lãng phí các nguồn lực quốc gia, đặc biệt là nguồn lực đất đai. Đồng thời, mở rộng phương thức thanh toán cho nhà đầu tư trong bối cảnh nguồn đất ngày càng hạn chế.

Nghị định 63/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 19/6/2018 và thay thế Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

Công ty Luật Minh Khuê rất mong muốn chia sẻ với quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích và đáng tin cậy, và chúng tôi cam kết luôn tuân thủ các quy định pháp lý trong mọi hoạt động của mình.

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có những câu hỏi cần được giải đáp, chúng tôi muốn gửi đến quý khách hàng lời đề nghị liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 19006162. Đội ngũ tư vấn của chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp giải pháp phù hợp nhất cho quý khách hàng, đảm bảo tính pháp lý và đáng tin cậy trong mọi trường hợp.

Bên cạnh đó, để thuận tiện cho quý khách hàng, chúng tôi cũng có thể nhận yêu cầu chi tiết thông qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẽ nhanh chóng phản hồi và giải đáp mọi thắc mắc một cách chính xác và đáng tin cậy, đảm bảo rằng quý khách hàng nhận được sự hỗ trợ và tư vấn tốt nhất.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và niềm tin của quý khách hàng! Đồng thời, chúng tôi cam kết tiếp tục nỗ lực để mang đến những dịch vụ pháp lý chất lượng và đáng tin cậy, góp phần giúp quý khách hàng giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả và an toàn từ pháp lý.