Căn cứ pháp lý:

- Luật Thanh tra năm 2010;

- Thông tư số 06/2021/TT-TTCP.

1. Thẩm quyền ra quyết định thanh tra

Với thanh tra hành chính, tại khoản 2 Điều 43 Luật Thanh tra năm 2010 quy định:

“Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra. Khi xét thấy cần thiết, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra”.

Với thanh tra chuyên ngành, tại khoản 1 Điều 51 Luật Thanh tra năm 2010 quy định:

“Chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra. Khi xét thấy cần thiết, bộ trưởng, giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra.”

2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người ra quyết định thanh tra

Điều 48 Luật Thanh tra năm 2010 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra hành chính: “…Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung quyết định thanh tra; … giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra, các thành viên khác của đoàn thanh tra; đình chỉ, thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra…; kết luận về nội dung thanh tra; chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm…”

Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra chuyên ngành, Điều 55 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “…Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung quyết định thanh tra;…qiải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra, các thành viên khác của đoàn thanh tra; đình chỉ, thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra…; kết luận về nội dung thanh tra; chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm”.

Điều 5 Thông tư số 06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ đã quy định trách nhiệm của người ra quyết định thanh tra: “Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo đoàn thanh tra, bảo đảm nguyên tắc của hoạt động thanh tra, bảo đảm cuộc thanh tra được thực hiện đúng pháp luật, đúng mục đích, yêu cầu; giải quyết kịp thời các phản ánh, kiến nghị của đoàn thanh tra; các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, liên quan đến hoạt động của đoàn thanh tra”.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra

Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra hành chính, Điều 46 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “…Kiến nghị với người ra quyết định thanh tra áp dụng biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra quy định tại Điều 48 của Luật Thanh tra năm 2010; báo cáo với người ra quyết định thanh tra về kết quả thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó….”.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành, Điều 53 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “… Kiến nghị với người ra quyết định thanh tra áp dụng biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra quy định tại Điều 55 của Luật Thanh tra năm 2010… Báo cáo với người ra quyết định thanh tra về kết quả thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó…”.

Điều 5 Thông tư số 06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ đã quy định trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra: “Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các thành viên Đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung, tiến độ thanh tra theo Quyết định thanh tra và kế hoạch tiến hành thanh tra; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo yêu cầu của Người ra quyết định thanh tra; chịu trách nhiệm trước Người ra quyết định thanh tra về hoạt động của Đoàn thanh tra”.

Điều 16 Thông tư số 06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ đã quy định trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra trong việc xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra: “Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra …Trưởng đoàn thanh tra trình Người ra quyết định thanh tra phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra”.

Và hàng loạt các quy định khác mà pháp luật về thanh tra đã quy định về trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra.

Tuy nhiên thực tiễn hiện nay, việc thực hiện đúng thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Người ra quyết định thanh tra, của Trưởng đoàn thanh tra đang bị hiểu sai lệch, vin vào các lý do khác nhau như: số lượng cán bộ thanh tra ít, phải tổ chức nhiều Đoàn thanh tra đan xen nhau, yêu cầu cấp thiết của công tác thanh tra, tạo thuận lợi cho đối tượng thanh tra…và từ đó không ít các trường hợp Chánh thanh tra (cấp huyện, sở) đã ký ban hành các quyết định thanh tra đồng thời là Trưởng đoàn thanh tra. Với các quyết định thanh tra như vậy có đúng quy định của pháp luật không? Chúng ta cùng trao đổi theo các nội dung:

Thứ nhất, khi Đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ thì nhiệm vụ, quyền hạn của Người ra quyết định thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra dồn thành một “tích hợp”, không thể tách bạch khi nào là Người ra quyết định thanh tra, khi nào là Trưởng đoàn thanh tra, trong khi đó theo quy định của pháp luật về thanh tra đã nêu ở trên trước hết với công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát Đoàn thanh tra ai sẽ thực hiện? Trưởng đoàn thanh tra vừa chỉ đạo, kiểm tra, giám sát Đoàn thanh tra với vai trò Người ra quyết định thanh tra, vừa thực hiện điều hành, quản lý Đoàn thanh tra với vai trò là Trưởng đoàn. Như vậy sẽ rơi vào tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Tiếp đến khi Đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra và trình Người ra quyết định thanh tra phê duyệt, trong khi đó Người ra quyết định thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra là một người thì người ký lập kế hoạch, vừa ký người phê duyệt hay sao, lại rơi vào tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Còn khi kết thúc việc thanh tra trực tiếp Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện Báo cáo kết quả thanh tra gửi Người ra quyết định thanh tra, như vậy thì Trưởng đoàn thanh tra xây dựng, hoàn thiện Báo cáo kết quả thanh tra xong thì lại gửi chính mình hay sao? lại rơi vào tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Nếu có khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, liên quan đến Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra thì người có thẩm quyền giải quyết là ai? Không thể là người ra quyết định thanh tra được vì người đó lại chính là Trưởng Đoàn thanh tra vì đã “tích hợp”. Và còn hàng loạt các công việc nhất là  dự thảo kết luận thanh tra, thẩm định kết luận thanh tra (nếu cần), công khai kết luận thanh tra, thực hiện kết luận thanh tra…

Thứ hai, từ các quy định nêu trên cho thấy, trong quá trình thanh tra Người ra quyết định thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra là 2 chủ thể khác nhau, có nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, cụ thể là:

- Người ra quyết định thanh tra: chỉ đạo Trưởng đoàn thanh tra thực hiện các nội dung thanh tra, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thanh tra theo đề xuất của Trưởng đoàn thanh tra, xem xét và ký kết luận thanh tra…

- Trưởng đoàn thanh tra: quản lý, điều hành Đoàn thanh tra, chịu sự kiểm tra, giám sát của Người ra quyết định thanh tra, nếu có những vấn đề vượt quá quyền hạn thì báo cáo Người ra quyết định thanh tra, ký báo cáo kết quả thanh tra gửi Người ra quyết định thanh tra…

Vì vậy với bất kỳ lý do gì cũng không thể “tích hợp” Người ra quyết định thanh tra đồng thời là Trưởng đoàn thanh tra được.

4. Quy trình thực hiện hoạt động thanh tra

Bước 1: Công bố Quyết định thanh tra

Theo quy định tại điều 19 của Thông tư này, Quyết định thanh tra phải được công bố theo quy định của Luật Thanh tra; Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố Quyết định thanh tra. Trong trường hợp cần thiết thì Người ra quyết định thanh tra chủ trì việc công bố hoặc ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra thực hiện việc công bố Quyết định thanh tra. Trong trường hợp đối tượng thanh tra cố tình vắng mặt thì Trưởng đoàn thanh tra lập biên bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và tiếp tục thực hiện cuộc thanh tra theo kế hoạch. Trong trường hợp phát hiện hành vi vi phạm thì việc công bố Quyết định thanh tra có thể được thực hiện sau khi lập biên bản vi phạm của đối tượng thanh tra.

 Trưởng đoàn thanh tra chủ trì buổi công bố Quyết định thanh tra. Việc công bố Quyết định thanh tra phải được lập thành biên bản, có chữ ký của Trưởng đoàn thanh tra và Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Bước 2: Địa điểm, thời gian làm việc của Đoàn thanh tra

Điều 20 của Thông tư quy định: Đoàn thanh tra làm việc tại trụ sở của cơ quan, tổ chức, đơn vị là đối tượng thanh tra, trụ sở cơ quan thanh tra hoặc tại nơi tiến hành kiểm tra, xác minh theo kế hoạch tiến hành thanh tra. Đoàn thanh tra làm việc với đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong giờ hành chính. Trong trường hợp phái làm việc ngoài giờ hành chính thì Trưởng đoàn thanh tra quyết định về thời gian cụ thể, thông báo cho các bên có liên quan và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Bước 3: Thu thập thông tin, tài liệu; Kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra

- Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo theo đề cương; yêu cầu đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra. Việc quản lý, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu thanh tra thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra và pháp luật khác có liên quan (Điều 21).

- Điều 22 của Thông tư quy định việc Kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra như sau: Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu các thông tin, tài liệu đã thu thập được; đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu người có trách nhiệm, người có liên quan giải trình về những vấn đề chưa rõ; trường hợp cần làm việc trực tiếp với đối tượng thanh tra, người có liên quan thì thành viên Đoàn thanh tra báo cáo Trưởng đoàn thanh tra xem xét, quyết định.

Trong trường hợp cần kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu hoặc làm rõ những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra thì Trưởng đoàn thanh tra, Người ra quyết định thanh tra mời đối tượng thanh tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến làm việc hoặc yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo. Văn bản yêu cầu báo cáo được thực hiện theo Mẫu số 10 ban hành kèm theo Thông tư này.

Trong trường hợp cần kiểm tra, xác minh sự việc hoặc làm rõ những vấn đề liên quan đến sự việc đã và đang xảy ra thì Trưởng đoàn thanh tra, Người ra quyết định thanh tra có thể mời thêm đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự việc hoặc người làm chứng khác.

Bước 4: Xử lý sai phạm trong quá trình thanh tra

- Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện có sai phạm thì Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra lập biên bản về việc sai phạm để làm cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với hành vi vi phạm thuộc trường hợp phải xử phạt vi phạm hành chính thì Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra lập biên bản vi phạm hành chính để xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyên cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp sai phạm của đối tượng thanh tra, của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan không thuộc thẩm quyền xử lý của mình thì Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị Người ra quyết định thanh tra hoặc Thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý.

- Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo Người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định chuyển thông tin, hồ sơ vụ việc sang Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, Người ra quyết định thanh tra chỉ đạo Đoàn thanh tra tiếp tục thanh tra theo kế hoạch tiến hành thanh tra đã phê duyệt và ban hành Kết luận thanh tra theo quy định của pháp luật.

Bước 5: Sửa đổi, bổ sung nội dung kế hoạch tiến hành thanh tra

Người ra quyết định thanh tra quyết định việc sửa đổi, bổ sung nội dung kế hoạch tiến hành thanh tra theo đề nghị của Trưởng đoàn thanh tra hoặc theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra không được vượt quá phạm vi thanh tra đã được xác định trong Quyết định thanh tra. Trưởng đoàn thanh tra phải lấy ý kiến của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra về nội dung sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra trước khi trình Người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định (Điều 25).

Bước 6: Chế độ báo cáo, sổ nhật ký Đoàn thanh tra: Theo quy định tại Điều 27 của Thông tư quy định chi tiết như sau:

a) Về chế độ báo cáo:

- Trưởng đoàn thanh tra giao nhiệm vụ kiểm tra, xác minh cho các thành viên Đoàn thanh tra bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung công việc, thời gian thực hiện, thời hạn báo cáo. Thành viên Đoàn thanh tra phải hoàn thành nhiệm vụ trong thời hạn được giao và báo cáo Trưởng đoàn thanh tra về việc thực hiện nhiệm vụ được giao ngay sau khi hoàn thành. Trong trường hợp có vấn đề phát sinh ngoài nhiệm vụ được giao hoặc cần phải được xử lý ngay thì thành viên Đoàn thanh tra phải báo cáo với Trưởng đoàn thanh tra để xem xét, quyết định.

- Trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo về tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với Người ra quyết định thanh tra theo tiến độ được xác định trong kế hoạch tiến hành thanh tra hoặc theo yêu cầu của Người ra quyết định thanh tra. Báo cáo tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của Trưởng đoàn thanh tra được gửi cho người thực hiện giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra.

b) Sổ nhật ký Đoàn thanh tra:

 Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm ghi sổ nhật ký Đoàn thanh tra một cách chính xác, khách quan, trung thực những nội dung có liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra diễn ra từ khi công bố Quyết định thanh tra đến khi ban hành Kết luận thanh tra. Sổ nhật ký Đoàn thanh tra được lưu trữ trong Hồ sơ thanh tra. Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm quản lý Sổ nhật ký Đoàn thanh tra cùng với các tài liệu khác trong quá trình thanh tra.

 Sổ nhật ký Đoàn thanh tra do Người ra quyết định thanh tra cấp cho Đoàn thanh tra khi có Quyết định thanh tra. Trường hợp Đoàn thanh tra do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ký quyết định thành lập thì Sổ nhật ký Đoàn thanh tra do Thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp với Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp cho Đoàn thanh tra.

* Khuyến khích việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc ghi nhật ký Đoàn thanh tra.

Bước 7: Kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra

Trước khi kết thúc việc tiến hành thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra báo cáo Người ra quyết định thanh tra và thông báo bằng văn bản cho đối tượng thanh tra về việc kết thúc thanh tra trực tiếp. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức buổi làm việc với đối tượng thanh tra để thông báo việc kết thúc thanh tra trực tiếp.