Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa đa sắc màu với 54 dân tộc anh em. Từ khi sinh ra, công dân được xác đinh dân tộc theo cha hoặc mẹ. Còn việc xác định lại dân tộc là một quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên việc xác định lại dân tộc lại được pháp luật quy định rất chặt chẽ. Bởi lẽ, Nhà nước ta thường sẽ có những chính sách nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Đa phần người Việt Nam sinh ra sẽ lấy dân tộc theo dân tộc của cha. Nhưng vì một lý do nào đó mà người đó có nguyện vọng thay đổi dân tộc theo dân tộc của mẹ. Sau đây, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về các trường hợp mà pháp luật Việt Nam cho phép thay đổi dân tộc. Xem thêm: Điểm ưu tiên khu vực cập nhật mới và chi tiết nhất 

Thưa luật sư, tôi có một con trai hiện đang học lớp 9. Tôi dân tộc Kinh còn vợ tôi là dân tộc Dao. Khi khai sinh cho con, con trai tôi theo dân tộc của bố thay vì của mẹ. Được biết, bộ Giáo dục có chính sách công điểm cho những thí sinh là dân tộc thiểu số khi tham gia kì thi trung học phổ thông quốc gia. Do đó, gia đình tôi có nguyện vọng thay đổi dân tộc cho cháu từ dân tộc Kinh sang dân tộc Dao có được pháp luật cho phép không? Tôi phải đến đâu để thực hiện thủ tục này? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn câu hỏi của anh. Sau đây, tôi xin thay mặt Luật Minh Khuê giải đáp vấn đề như sau:

 

1. Quyền xác định dân tộc

Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me... Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

- Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

- Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

- Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau.

- Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Bộ Luật Dân sự 2015. Quyền xác định, xác định lại dân tộc “cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình”. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không cho phép công dân được phép lựa chọn dân tộc của mình, mà việc xác định dân tộc dựa trên các yếu tối sau:

Căn cứ khoản 2 Điều trên pháp luật đã quy định về căn cứ xác định dân tộc như sau:

“2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”

Xác định lại dân tộc là một quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật bảo vệ.

 

2. Quyền xác định lại dân tộc

Pháp luật Việt Nam cho phép việc xác định lại dân tộc dựa trên các trường hợp cụ thể như sau, Căn cứ khoản 3 Điều 29 Bộ Luật Dân sự 2015:

“3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:

a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;

b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.

4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.

5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.”

Như vậy, Trong trường hợp trên, con trai anh theo dân tộc bố và có nguyện vọng đổi theo dân tộc mẹ là dân tộc Dao được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, khi thực hiện thay đổi cần phải có sự đồng ý của bạn ấy nều bạn ấy đã đủ 15 tuổi tính đến thời điểm làm thủ tục thay đổi tên họ.

 

3. Thẩm quyền thực hiện việc xác định lại dân tộc

+ Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của người nước ngoài có thẩm quyền giải quyết việc cải chính, bổ sung hộ tịch đối với người nước ngoài đã đăng ký hộ tịch tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam;

+ Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã đăng ký hộ tịch trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc:

+ Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.

 

4. Trình tự thủ tục thực hiện xác định lại dân tộc

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ đăng ký xác định lại dần tộc, bao gồm:

  1. Tờ khai đăng ký xác định lại dân tộc;
  2. Bản chính Giấy khai sinh của người được xác định lại dân tộc;
  3. Các giấy tờ khác giải trình mục đích, chứng minh việc xác định lại dân tộc là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bước 2: Nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Bạn nộp hồ sơ ở trên đến UBND cấp quận/huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đầy hoặc nơi cư trú của cá nhân cẩn xác định lại dần tộc. Khi nộp hồ sơ, bạn cần xuất trình giấy tờ tùy thân của bạn là giấy CMND hoặc hộ chiếu, thẻ căn cước công dân còn giá trị sử dụng.

Bước 3: Nhận kết quả giải quyết hổ sơ.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (hoặc nếu cần phải xác minh thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng không quá 03 ngày làm việc), nếu thấy việc xác định lại dân tộc là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật, cán bộ tư pháp - hộ tịch sẽ ghi nội dung thay đổi vào sổ hộ tịch. Bạn (với tư cách là người đăng ký) sẽ cùng cán bộ tư pháp - hộ tịch ký vào sổ hộ tịch. Cán bộ tư pháp - hộ tịch sẽ ghi nội dung xác định lại dân tộc vào Giấy khai sinh và cấp lại cho bạn.

Trong trường hợp đăng ký xác định lại dân tộc không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì UBND cấp có thẩm quyền giải quyết sẽ thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến UBND nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Mức phí hành chính cho việc xác định lại dân tộc sẽ căn cứ theo biểu phí hành chính do Hội đồng nhân dân tỉnh nơi đăng ký hộ tịch ban hành theo từng thời kỳ. Biểu phí này thường sẽ được niêm yết tại các UBND nên bạn có thể đến tham khảo để biết mức phí cho trường hợp thay đổi họ tên của mình.

>> Tham khảo: Phân biệt điểm ưu tiên và điểm khuyến khích tốt nghiệp THPT

 

5. Những chính sách công điểm đối với thí sinh là dân tộc thiểu số?

Theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP quy định:

- “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

-“Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia.

Căn cứ Khoản 1 và Khoản 7 Điều 7 Thông tư 09/2020/TT-BGDĐT quy định về chính sách ưu tiên trong tuyển sinh như sau:

1. Nhóm ưu tiên 1 (UT1) gồm các đối tượng: 01; 02; 03; 04 được cộng 2 điểm:

- Đối tượng 01: Công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú (trong thời gian học THPT hoặc trung cấp) trên 18 tháng tại Khu vực 1.

Khu vực 1 (KV1) gồm: Các xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi theo quy định được áp dụng trong thời gian thí sinh học THPT hoặc trung cấp; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;

2. Nhóm ưu tiên 2 (UT2) gồm các đối tượng: 05; 06; 07 được cộng 1 điểm:

- Đối tượng 06:

+ Công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú ở ngoài khu vực đã quy định thuộc đối tượng 01;

+ Con thương binh, con bệnh binh, con của người được hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao động dưới 81%;

+ Con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 81%;

+ Con của người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

+ Con của người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế có giấy chứng nhận được hưởng chế độ ưu tiên theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng;

+ Con của người có công giúp đỡ cách mạng;

Như vậy, theo quy định của Bộ Giáo dục, người dân tộc thiểu số ở những vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn sẽ được ưu tiên 2 điểm, và người dân tộc thiểu số ở những vùng còn lại sẽ được cộng 1 điểm.

Đây chính là chính sách quan trọng trong công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước nhằm khuyến khích sự phát triển của các dân tộc thiểu số dựa trên nguyên tắc bình đẳng, từ đó giảm khoảng cách về kinh tế, dân trí, giáo dục của 54 dân tộc anh em Việt Nam.