Thấy người bị tai nạn không cứu giúp bị tội gì?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Khái quát chung tội không cứu giúp người đang ờ trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là hành vi của người mà khi biết được người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm có thể bị chết mặc dù có điều kiện cứu giúp nhưng đã bỏ mặc tình trạng đó làm cho nạn nhân bị chết.

Tội phạm gián tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người. Đồng thời tội phạm xâm phạm trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghề nghiệp, đạo đức con người trước tính mạng của người khác.

2. Tội không cứu giúp người đang ờ trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được quy định như thế nào

Tội không cứu giúp người đang ờ trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Điều 132. Tội không cứu giúp người đang ờ trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

1. Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dân đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cảo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đên 05 năm:

a) Người không cứu giúp là người đã võ ỷ gãy ra tĩnh trạng nguy hiểm;

b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

3. Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cẩm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3. Bình luận tội không cứu giúp người đang ờ trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Điều luật gồm 4 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; khoản 2 và khoản 3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung.

3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

>> Xem thêm:  Những trường hợp nào phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát giải quyết ?

Chủ thể của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

3.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan được quy định là hành vi (không hành động) không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Trong đó, người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được hiểu là người mà tính mạng của họ đang trực tiếp bị đe dọa, đòi hỏi phải có sự cứu giúp kịp thời của người khác. Nếu không được cứu giúp kịp thời, tình trạng này sẽ dẫn đến hoặc có thể dẫn đến chết người. Tình trạng nguy hiểm đến tính mạng có thể do tai nạn bất ngờ (bị thương do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn trong khi đi săn bắn... đòi hỏi phải được cấp cứu) hoặc có thể do những rủi ro khác như người không biết bơi bị ngã xuống sông, hồ, ao hoặc có thể do bị bệnh nhất định đòi hỏi phải được cấp cứu... Sự nguy hiểm đến tính mạng có thể do bên ngoài đưa lại hoặc có thể do chính bản thân người đang trong tình trạng nguy hiểm đó tự gây ra như gây tai nạn giao'thông hay tự sát V.V..

Do hành vi dưới dạng không hành động nên đòi hỏi người phạm tội là người có đủ điều kiện để cứu giúp, ngăn chặn hậu quả chết người xảy ra. Việc cứu giúp không gây nguy hiểm cho bản thân người cứu giúp cũng như cho người khác. Khả năng của bản thân cũng như những điều kiện bên ngoài khác hoàn toàn cho phép người phạm tội có khả năng cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng người phạm tội đã không cứu giúp, không thực hiện việc làm mà pháp luật cũng như đạo đức đều đòi hỏi họ phải làm.

3.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Dấu hiệu hậu quả của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là hậu quả chết người. Hậu quả chết người xảy ra là do nạn nhân không được cứu giúp hay nói cách khác, giữa hành vi không cứu giúp và hậu quả chết người có QHNQ với nhau.

3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể thực hiện hành vi không cứu giúp được quy định là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, đòi hỏi cần được cứu giúp. Người phạm tội cũng nhận thức được mình có đủ điều kiện cứu giúp, có đủ điều kiện có thể ngăn chặn được hậu quả chết người.

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau: Do vậy, trường họp này được,xác định là một trường họp tăng nặng trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Cố ý giết người không thành thì phạt tù bao nhiêu năm? Thuê người khác giết người phạm tội gì?

Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp: Theo Điều 132 BLHS, mọi người đều có nghĩa vụ phải cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Câm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghê hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4 Tội đe dọa giết người được quy định như thế nào

Tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

4.1 Về mặt khách quan của tội phạm:

- Về hành vi: Người phạm tội đã thực hiện hành vi đe dọa giết người bị hại trái pháp luật. Hành vi đe dọa này có thể thực hiện bằng lời nói, hành động, cử chỉ... không nhằm mục đích giết người bị hại mà chỉ nhằm làm người bị hại phải lo lắng, sợ hải, hình thành trong tư tưởng rằng người phạm tội sẽ thực hiện hành vi giết người bị hại như đã đe dọa.

- Về mặt hậu quả: Gây nên tâm lý lo lắng, sợ hãi cho người bị hại; người bị hại thật sự tin rằng hành vi đe dọa sẽ được người phạm tội thực hiện.

4.2 Về mặt chủ quan của tội phạm:

- Về lỗi: Người thực hiện hành vi do lỗi vô ý trực tiếp.

Theo đó, người thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là đe dọa người bị hại, làm cho người bị hại lo sợ có thể dẫn đến hậu quả như lời đe dọa, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra;

- Mục đích của hành vi phạm tội: Nhằm đe dọa người bị hại để người bị hại làm hoặc không làm một việc gì đó.

>> Xem thêm:  Tội giết người với lỗi cố ý nhưng phạm tội chưa đạt thì xử lý thế nào ?

4.3 Mặt khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ.

4.4 Về mặt chủ thể của tội phạm:

Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ. Hình phạt đối với người phạm tội đe dọa giết người: Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đe dọa giết người.

Tùy vào trừng trường hợp cụ thể, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội đe dọa giết người có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm.Đây là hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là lời đe dọa tước đoạt tính mạng người khác qua những hình thức khác nhau (trực tiếp, qua điện thoại, qua thư viết, thư điện tử hay tin nhắn điện thoại...) hoặc có thể là những cử chỉ, việc làm cụ thể thể hiện sự đe dọa tước đoạt tính mạng người khác (như đi tìm công cụ, phương tiện...).

Theo quy định của điều luật, hành vi đe dọa phải gây ra cho người bị đe dọa tâm lý lo sợ một cách có căn cứ là hành vi tước đoạt tính mạng sẽ xảy ra. Như vậy, không phải tất cả các hành vi đe dọa giết người đều cấu thành tội đe dọa giết người. Hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thànlựội đe dọa giết người khi hành vi đe dọa làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Để đánh giá người bị đe dọa có phải ở trong trạng thái tâm lý như vậy hay không cần phải dựa vào những tình tiết sau:

+ Nội dung và hình thức đe dọa;

+ Thời gian, địa điểm cũng như hoàn cảnh cụ thể khi hành vĩ đe dọa xảy ra;

+ Tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa;

+ Thái độ và những xử sự cụ thể của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa...

>> Xem thêm:  Khung hình phạt đối với tội giết người? Giết người khi phòng vệ?

- Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Khi áp dụng điều luật này, cần chú ý: Hành vi đe dọa giết người không cấu thành tội đe dọa giết người khi hành vi này được quy định là một phần trong CTTP của tội khác như được quy định trong CTTP của tội cướp tài sản. Theo đó, hành vi đe dọa giết người nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản cấu thành tội cưóp tài sản (Điều 168 BLHS).

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

- (Phạm tội) đối với 02 người trở lên: Đây là trường họp đe dọa giết 02 người trở lên trong cùng thời điểm hoặc ở các thời điểm khác nhau.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp người đe dọa là người có chức vụ, quyền hạn và chủ thể đã sử dụng vị thế này trong hành vi đe dọa giết người để tăng tác động tâm lý của hành vi đe dọa.

- (Phạm tội) đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân: Đây là trường hợp nạn nhân là người thi hành công vụ và hành vi đe dọa giết người xảy ra vì họ đang thi hành công vụ hoặc vì họ sắp thi hành công vụ hoặc trước đó đã thi hành công vụ. Khi áp dụng tình tiết này cần chú ý phân biệt hành vi đe dọa giết người ở tội phạm này với hành vi đe dọa giết người bị coi là hành vi đe dọa dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ của tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 330 BLHS. Hành vi đe dọa giết người ở tội phạm này có đặc điểm “có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện”.

- (Phạm tội) đối với người dưới 16 tuổi: Đây là trường họp nạn nhân bị đe dọa giết thuộc đối tượng cần được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ đặc biệt. Tính chất đặc biệt này của đối tượng bị đe dọa làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội.

- (Phạm tội) để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác: Đây là trường hợp lý do mà chủ thể đã thực hiện hành vi đe dọa giết người là để che giấu tội phạm khác đã thực hiện hoặc để trốn tránh việc bị xử lý về tội phạm khác đã thực hiện.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Giết người bị xử phạt bao nhiêu năm tù ? Phải làm gì khi bị người khác đe dọa giết cả nhà ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khi thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy co điều kiện mà không cứu giúp làm người đó chết có phạm tội không? Bị xử phạt như thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thi hành hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là gì?

Trả lời:

Thi hành hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Câu hỏi: Thi hành hình phạt cấm huy động vốn là như thế nào?

Trả lời:

Thi hành hình phạt cấm huy động vốn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án không được thực hiện một hoặc một số hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Câu hỏi: Cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại chấp hành án là như thế nào?

Trả lời:

Cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại chấp hành án là cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng ký, cấp giấy phép, chấp thuận cho pháp nhân thương mại hoạt động, giám sát, theo dõi pháp nhân thương mại hoạt động được cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền yêu cầu thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ để bảo đảm thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại chấp hành án.