1. Khái niệm đạo luật hình sự.

ĐLHS của nước CHXHCN Việt Nam là văn bản pháp luật hình sự do cơ quanquyền lực Nhà nước cao nhất ban hành quy định về tội phạm và hình phạt cũng  như các chế định khác liên quan đến việc xác định tội phạm và hình phạt, đồng thời quy định những nhiệm vụ và nguyên tắc của LHS Việt Nam.
Đạo luật hình sự có 3 đặc điểm như sau:
- Về hình thức pháp lý: Đạo luật hình sự là văn bản quy phạm pháp luật.
-  Về thẩm quyền ban hành: Đạo luật hình sự do Quốc Hội ban hành.
-  Về nội dung: Đạo luật hình sự chứa đựng các quy phạm pháp luật quy định về tội phạm và hình phạt.
Với các đặc điểm trên thì Đạo luật hình sự hiện hành chỉ là Bộ luật hình sự Việt Nam 1999. Song đánh giá cả quá trình lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta cho thấy đạo luật hình sự Việt Nam bao gồm: Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1985 vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997.
Nội dung bên trong của đạo luật hình sự Việt Nam chứa đựng các quy phạm pháp luật. Tính chất của các quy phạm pháp luật hình sự trong đạo luật hình sự thể hiện ở tính chất cấm chỉ và tính chất bắt buộc:
Về tính chất cấm chỉ của quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện ở việc không cho phép người ta thực hiện những hành vi được quy định trong bộ luật hình sự là tội phạm bằng cách răn đe áp dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi đó.
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự Việt Nam vẫn cho phép một người được quyền hành động để gây một thiệt hại nhất định cho xã hội trong hai trường hợp: Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết (Điều 15, Điều 16 BLHS).
Về tính chất bắt buộc của các quy phạm pháp luật hình sự thể hiện ở 2 phương diện là đối với người phạm tội luôn phải chịu một biện pháp trách nhiệm hình sự nhất định, còn đối với các cơ quan có trách nhiệm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội một cách nghiêm minh, kịp thời.
Các quy phạm pháp luật trong Đạo luật hình sự được chia làm 2 loại với vị trí pháp lý khác nhau:
Nhóm quy phạm thứ nhất là các quy phạm quy định các vấn đề có tính chất là nền tảng, cơ sở lý luận chung, như các quy phạm về hiệu lực, về nhiệm vụ, về khái niệm, điều kiện cho việc xác định tội phạm và hình phạt. Các quy phạm này hợp thành phần chung của BLHS (được quy định từ Điều 1 đến Điều 77 BLHS).
Nhóm quy phạm thứ hai là các quy phạm quy định các tội phạm cụ thể và hình phạt cần áp dụng đối với từng tội phạm đó. Các quy phạm này hợp thành phần các tội phạm cụ thể (được quy định từ Điều 78 đến Điều 344 BLHS).

2. Cấu tạo của đạo luật hình sự 

Về hình thức cấu trúc bên ngoài của Đạo luật hình sự Việt Nam
Hình thức cấu tạo bên ngoài của Đạo luật hình sự Việt Nam được thể hiện theo sơ đồ sau:
ĐLHS (BLHS) gồm có: phần chung và phần riêng sau đó được chia thành các chương (mục), đến các điều.
Hình thức cấu trúc bên trong của Đạo luật hình sự (Chính là cấu trúc của các quy phạm pháp luật hình sự).
Cấu trúc của một quy phạm pháp luật nói chung bao gồm 3 bộ phận, đó là: bộ phận giả định, quy định và chế tài.
Phần giả định của một quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi ai? ở đâu? hoàn cảnh nào? Đối với phần giả định của quy phạm pháp luật hình sự nó trả lời cho câu hỏi: trong điều kiện nào họ được coi là có lỗi, người phạm tội là công dân Việt Nam, người nước ngoài, độ tuổi, tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, hay ngoài lãnh thổ Việt Nam. Những nội dung này được nêu trong phần chung của Bộ luật hình sự. Như vậy phần giả định của quy phạm pháp luật hình sự được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự.
Do đó, cấu trúc của một quy phạm pháp luật hình sựphần các tội phạm gồm 2 bộ phận quy định và chế tài. Phần quy định của quy phạm pháp luật hình sựđưa ra quy tắc xử sự mang tính cấm chỉ. Phần chế tài chính là việc quy định khung hình phạt.

3. Đặc điểm của đạo luật hình sự.

Với khái niệm trên cho thấy, đạo luật hình sự có 3 đặc điểm như sau:

  • Về hình thức pháp lý: Đạo luật hình sự là văn bản quy phạm pháp luật.
  • Về thẩm quyền ban hành: Đạo luật hình sự do Quốc Hội ban hành.
  • Về nội dung: Đạo luật hình sự chứa đựng các quy phạm pháp luật quy định về tội phạm và hình phạt.

Với các đặc điểm trên thì Đạo luật hình sự hiện hành chỉ là Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Song đánh giá cả quá trình lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta cho thấy đạo luật hình sự Việt Nam bao gồm: Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1985 vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997,…
Nội dung bên trong của đạo luật hình sự Việt Nam chứa đựng các quy phạm pháp luật. Tính chất của các quy phạm pháp luật hình sự trong đạo luật hình sự thể hiện ở tính chất cấm chỉ và tính chất bắt buộc:

– Về tính chất cấm chỉ của quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện ở việc không cho phép người ta thực hiện những hành vi được quy định trong bộ luật hình sự là tội phạm bằng cách răn đe áp dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi đó.

Tuy nhiên, Bộ luật hình sự Việt Nam vẫn cho phép một người được quyền hành động để gây một thiệt hại nhất định cho xã hội trong hai trường hợp: Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết (Điều 15, Điều 16 BLHS).

– Về tính chất bắt buộc của các quy phạm pháp luật hình sự thể hiện ở 2 phương diện là đối với người phạm tội luôn phải chịu một biện pháp trách nhiệm hình sự nhất định, còn đối với các cơ quan có trách nhiệm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội một cách nghiêm minh, kịp thời.

Các quy phạm pháp luật trong Đạo luật hình sự được chia làm 2 loại với vị trí pháp lý khác nhau:

Nhóm quy phạm thứ nhất là các quy phạm quy định các vấn đề có tính chất là nền tảng, cơ sở lý luận chung, như các quy phạm về hiệu lực, về nhiệm vụ, về khái niệm, điều kiện cho việc xác định tội phạm và hình phạt. Các quy phạm này hợp thành phần chung của BLHS (được quy định từ Điều 1 đến Điều 77 BLHS)

Nhóm quy phạm thứ hai là các quy phạm quy định các tội phạm cụ thể và hình phạt cần áp dụng đối với từng tội phạm đó. Các quy phạm này hợp thành phần các tội phạm cụ thể (được quy định từ Điều 78 đến Điều 344 BLHS).

4. Hiệu lực về không gian của đạo luật hình sự Việt Nam.

Khi nói đến hiệu lực về không gian của đạo luật hình sự Việt Nam là chúng ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi Bộ luật hình sự Việt Nam được áp dụng đối với ai? đối với những hành vi phạm tội xảy ra ở đâu?

4.1. Đối với hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.

Trước hết cần phải hiểu phạm vi lãnh thổ Việt Nam là gì? Lãnh thổ Việt Nam theo luật hình sự Việt Nam được hợp thành bởi 3 bộ phận:

1. Lãnh thổ có thực: Bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời thuộc chủ quyền của Việt Nam

2. Lãnh thổ mở rộng: Tàu thuỷ mang cờ hiệu của Việt Nam đang ngoài vùng biển Quốc tế, máy bay dân dụng mang cờ hiệu của Việt Nam đang bay trên đường bay. Tàu chiến, máy bay quân sự của Việt Nam đang ở bất kỳ nơi nào.

3. Lãnh sự quán, Đại sứ quán của Việt Nam ở nước ngoài.

Được coi là hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam nếu bắt đầu hoặc kết thúc hoặc diễn ra trọn vẹn trong phạm vi không gian nói trên

Về nguyên tắc áp dụng BLHSVN đối với những hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ của Việt Nam được quy định tại Khoản 1 Điều 5 BLHS như sau “BLHS được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước CHXHXNVN”.

Như vậy, với quy định trên thì BLHSVN có hiệu lực tuyệt đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam dù người đó là công dân Việt Nam, người nước ngoài, hay người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

Tuy nhiên, đối với đối tượng là người nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao là trường hợp ngoại lệ được quy định ở Khoản 2, Điều 5 BLHS: “Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCNVN thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia hoặc theo tập quán Quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”.

Như vậy, BLHSVN có các quy định ngoại lệ đối với các đối tượng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp với 2 nhóm như sau:

– Theo pháp luật Việt Nam, theo hiệp định Quốc tế mà Việt Nam tham gia thì những đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao là các thành viên của đoàn ngoại giao trở lên.

– Theo thông lệ quốc tế thì vợ hoặc chồng hoặc con chưa thành niên của những người kể trên cũng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.

4.2. Đối với hành vi phạm tội xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Trước hết, đối với công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam. Đối với các đối tượng này khi phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam, nguyên tắc áp dụng BLHSVN tại Khoản 1, Điều 6 BLHS quy định “Công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo bộ luật này”.

Như vậy, nếu công dân Việt Nam hoặc người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội đã thực hiện được quy định trong BLHS. Vì theo nguyên tắc quốc tịch thì công dân Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam dù ở bất kỳ nơi nào, đồng thời phải tuân thủ pháp luật ở nước sở tại.

Đối với người nước ngoài khi phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam, nguyên tắc áp dụng BLHSVN được quy định tại Khoản 2, Điều 6 BLHS “Người nước ngoài phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam nếu tội đã phạm được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia”.

Đó là những tội được quy định tại chương XXIV của BLHS – tội phạm phá hoại hoà bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh, các tội xâm phạm các quyền và lợi ích cơ bản của công dân Việt Nam.