- 1. Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là gì?
- 2. Cấu thành tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật
- 2.1. Khách thể của tội phạm
- 2.2. Mặt khách quan
- 2.3. Chủ thể của tội phạm
- 2.4. Mặt chủ quan
- 3. Khung hình phạt tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
- 3.1. Các khoản hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả
- 3.2. Tình tiết định khung tăng nặng
- 3.3. Tình tiết giảm nhẹ
- 3.4. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự
- 3.5. Căn cứ pháp lý và văn bản hướng dẫn
- 4. So sánh với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- 5. Câu hỏi thường gặp có liên quan đến tội danh
- Kết luận
Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thuộc Chương XIV - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đây là nhóm tội đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến các quyền con người.
Việc xử lý tội danh này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ và thực thi quyền con người, cụ thể là quyền tự do thân thể. Về mặt xã hội, tội danh này góp phần duy trì trật tự xã hội, bảo vệ an toàn cho mỗi cá nhân, củng cố lòng tin của người dân vào pháp luật. Tội danh này khá phổ biến trong thực tiễn, thường xảy ra dưới nhiều dạng thức khác nhau, từ việc bắt giữ để đòi nợ, giữ người để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, hoặc thậm chí là giữ người để thực hiện một hành vi phạm tội khác.
1. Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là gì?
Hành vi bắt người trái pháp luật được hiểu là hành vi của người không có thẩm quyền, khống chế người khác không theo đúng các quy định của pháp luật để tạm giữ hoặc tạm giam họ;
Hành vi giữ người trái pháp luật là hành vi của người không có thẩm quyền và thực hiện không theo đúng các quy định của pháp luật để không cho người khác di chuyển vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình, trong một khoảng thời gian nhất định;
Hành vi giam người trái pháp luật là hành vi của người không có thẩm quyền thực hiện việc cách ly người khác trái pháp luật ở một địa điểm và trong một khoảng thời gian nhất định.
Các hành vi trên đều là hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác nhưng khác nhau ở các hình thức thể hiện. Chủ thể của tội phạm có thể thực hiện một, hai hoặc đồng thời cả ba hành vi nêu trên.
Tính trái pháp luật của 03 hành vi trên được hiểu là sự không thỏa mãn các quy định về bắt, giữ hoặc giam người theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và Luật Xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, pháp luật chỉ cho phép thực hiện việc bắt, tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp sau nếu thỏa mãn yêu cầu của từng trường hợp:
- Bắt người phạm tội quả tang: Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất… (Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).
- Bắt người đang bị truy nã: Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt hoặc giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất… (khoản 1 Điều 112 BLTHS năm 2015).
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Là trường hợp bắt người theo lệnh, quyết định của người, cơ quan có thẩm quyền được quy định tại Điều 113 BLTTHS năm 2015.
- Tạm giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp: Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã (Điều 113 BLTTHS năm 2015).
- Tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Là biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý đối với người có hành vi vi phạm hành chính do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cụ thể, mà theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016 của Chính phủ là các trường hợp: cần ngăn chặn, đình chỉ ngay các hành vi gây rối trật tự công cộng và gây thương tích cho người khác; cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong các trường hợp mà người vi phạm có dấu hiệu bỏ trốn, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm, gây cản trở việc xử lý vi phạm; khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi bạo lực gia đình.
- Tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội theo quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2015.
Như vậy, các trường hợp bắt, giữ hoặc giam người không đúng quy định của BLTTHS và Luật Xử lý vi phạm hành chính đều bị coi là trái pháp luật.
Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 377 BLHS là trường hợp đặc biệt (chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn) so với trường hợp quy định tại điều luật này. Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được coi là hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật khi hành vi này không thỏa mãn dấu hiệu của hành vi được quy định tại Điều 377 BLHS. Ngoài ra, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhằm mục đích chiếm đoạt nạn nhân (dưới 16 tuổi) cũng không phải là hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật mà là hành vi khách quan của tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS.
Thủ đoạn thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, dùng sức mạnh về vật chất như trói, nhốt vào thùng xe, nhà kho… hoặc bạo lực về tinh thần như đe dọa bắn, đánh nếu không để cho bắt… Tuy nhiên, các thủ đoạn này không có ý nghĩa đối với việc định tội danh.
2. Cấu thành tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật
2.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm này là quyền tự do thân thể của con người. Đây là một quyền nhân thân được Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: “2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.” Bắt, giữ hoặc giam người là hành vi xâm phạm đến quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại của con người, của công dân.
Các hoạt động bắt, giữ hoặc giam người được quy định chặt chẽ trong Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật còn xâm phạm những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Từ đó, khách thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của con người, của công dân và các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự.
2.2. Mặt khách quan
Hành vi: Hành vi khách quan của tội phạm này bao gồm một trong ba hành vi: bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.
- Bắt người trái pháp luật: Là hành vi tước đoạt sự tự do của một người bằng cách đột ngột khống chế, đưa người đó đến một địa điểm khác, không tuân thủ trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Ví dụ: Một nhóm người đột nhập vào nhà, khống chế và bắt cóc một người để đòi nợ.
- Giữ người trái pháp luật: Là hành vi hạn chế quyền tự do đi lại của một người bằng cách giam cầm, nhốt, không cho họ rời khỏi một địa điểm nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Ví dụ: Một người chủ không cho người giúp việc rời khỏi nhà vì nghi ngờ người đó lấy cắp tài sản.
- Giam người trái pháp luật: Là hành vi tước đoạt tự do của người khác trong một khoảng thời gian dài hơn, thường ở một nơi kín đáo, bí mật và có tính chất giam hãm. Ví dụ: Giam cầm một người trong một căn phòng kín, khóa trái cửa và chỉ cho ăn uống tối thiểu.
Hậu quả: Tội danh này là tội phạm cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, không phụ thuộc vào việc hậu quả vật chất có xảy ra hay không. Tuy nhiên, nếu hành vi đó gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, tính mạng, thì đó là tình tiết định khung tăng nặng.
Mối quan hệ nhân quả: Không cần chứng minh hậu quả, chỉ cần chứng minh hành vi trái pháp luật đã xảy ra.
2.3. Chủ thể của tội phạm
- Độ tuổi: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS): Có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Chủ thể đặc biệt: Tội danh này không đòi hỏi chủ thể đặc biệt. Tuy nhiên, nếu hành vi do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện (ví dụ: công an, kiểm sát viên, thẩm phán) thì sẽ bị xử lý theo tội danh khác nghiêm trọng hơn như "Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ" (Điều 357 BLHS).
Chủ thể thực hiện tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể là bất kì ai từ đủ 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Thứ nhất, chủ thể của tội phạm có thể là bất kì ai, là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, có thể là cá nhân hoặc có đồng phạm thực hiện tội phạm.Chủ thể của tội này có thể là một công dân bình thường nhưng cũng có thể là người có chức vụ quyền hạn được bắt, giữ, giam người khác nhưng hành vi bắt, giữ giam người này trái thẩm quyền hoặc quá thời gian luật định.
Thứ hai, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự chia ra hai mức tuổi chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 16 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Khoản 2 Điều 9 quy định một số tội phạm người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không có các tội quy định tại Điều 157, Khoản 1 Điều 9 quy định người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội. Do đó, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là người từ 16 tuổi trở lên.
Thứ ba, chủ thể thực hiện tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi. Thiếu một trong hai năng lực này, người đó bị coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự và được loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật hình sự hoặc bị áp dụng các biện pháp tư pháp theo quy định của Bộ luật này.
2.4. Mặt chủ quan
Tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ mức độ nguy hiểm do hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật, nhìn thấy trước hậu quả gây tổn hại đến thân thể, quyền tự do của nạn nhân nhưng vẫn mong muốn tội phạm xảy ra.
Nếu do thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì không phải là tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật mà tùy trường hợp cụ thể mà hành vi của người phạm tội có thể cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính.
Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm. Người phạm tội phạm tội này có thể vì động cơ và mục đích khác nhau, nhưng nếu bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật vì mục đích thực hiện một tội phạm khác thì có thể bị truy cứu về tội có dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Ví dụ, người bắt, giữ, giam người khác để đem bán thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người (Điều 150) hay nhằm mục đích chiếm giữ người dưới 16 tuổi thì người phạm tội sẽ bị truy cứu về tội chiếm giữ người dưới 16 tuổi (Điều 153).
Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Hành vi này thể hiện trên 02 phương diện:
- Người không có thẩm quyền, không có chức năng hoạt động Nhà nước và cũng không phải trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang có lệnh truy nã nhưng vì lý do cá nhân đã có hành vi bắt, giữ, giam người trái phép.
- Người có chức năng hoạt động Nhà nước nhưng tiến hành bắt, giữ, giam người khi không đủ tài liệu chứng cứ hoặc khi đã đủ tài liệu chứng cứ về hành vi phạm tội của họ hoặc thẩm quyền, thủ tục tiến hành, thời gian không đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể thực hiện cả ba hành vi: bắt, giữ hoặc giam người, nhưng cũng có thể chỉ thực hiện một trong ba hành vi đó.
Từ những quy định của pháp luật ta có thể hiểu hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gồm 03 hành vi bắt người trái pháp luật, giữ người trái pháp luật và giam người trái pháp luật.
Bắt người trái pháp luật là hành vi bắt người mà không có lệnh của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt người có lệnh truy nã hoặc tuy có lệnh của những người có thẩm quyền nhưng việc tiến hành bắt không đúng thủ tục như bắt người vào ban đêm (sau 22 giờ) mà không thuộc trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.
Hình thức bắt có thể là dùng vũ lực như trói, khóa tay hoặc đe doạ dùng vũ lực buộc người bị bắt phải đến nơi mà người phạm tội đã chọn. Nếu trong quá trình bắt mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, của người bị hại thì tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng với hành vi xâm phạm. Ví dụ Điều 126 - Tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội hoặc Điều 136 - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.
Giữ người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giữ người không đúng với quy định của pháp luật; giữ người không có lệnh của người có thẩm quyền; giữ người quá hạn; giữ người thuộc trường hợp không được tạm giữ.
Giam người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giam người không đúng với quy định của pháp luật; giam người không có lệnh của người có thẩm quyền; giam người quá hạn; giam người thuộc trường hợp không được tạm giam.
Tính trái pháp luật trong việc bắt, giữ hoặc giam người là việc bắt, giữ hoặc giam người ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Vì vậy, khi xác định hành vi bắt, giữ hoặc giam người có trái pháp luật hay không, cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về việc bắt, giữ hoặc giam người. Những quy định này chủ yếu được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Hậu quả của hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trước hết là gây ra việc một người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam trái pháp luật. Hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc mà nếu có thì là dấu hiệu định khung hình phạt.
Tội phạm hoàn thành khi có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xảy ra. Nếu người phạm tội có ý định bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đã chuẩn bị phương tiện, địa điểm, lực lượng để thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt được người bị hại thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.
3. Khung hình phạt tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
Nội dung tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật được quy định tại Điều 157 BLHS như sau:
“Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
3.1. Các khoản hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả
Theo Điều 157 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 chia thành 04 khung hình phải theo mức hình phạt tăng dần:
- Khoản 1: Hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.
- Khoản 2: Hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi hành vi có một trong các tình tiết định khung tăng nặng.
- Khoản 3: Hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm khi hành vi có một trong các tình tiết định khung tăng nặng khác.
- Khoản 4: Hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm khi hành vi có một trong các tình tiết định khung tăng nặng khác.
3.2. Tình tiết định khung tăng nặng
Khoản 2 (từ 02 đến 07 năm):
- Có tổ chức: Nhóm người có sự bàn bạc, phân công vai trò rõ ràng.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Chủ thể là người có thẩm quyền nhưng lạm dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng: Tấn công vào đối tượng yếu thế.
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.
Khoản 3 (từ 05 đến 12 năm):
- Giam giữ từ 05 người trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.
- Làm nạn nhân chết.
Khoản 4 (từ 10 đến 15 năm):
- Làm nạn nhân chết và có các tình tiết định khung khác.
3.3. Tình tiết giảm nhẹ
- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 BLHS 2015.
- Ví dụ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
3.4. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được quy định tại Chương IV BLHS 2015:
- Phòng vệ chính đáng (Điều 22): Hành vi bắt, giữ người để chống lại hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác, miễn là không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
- Tình thế cấp thiết (Điều 23): Bắt, giữ người để loại trừ một nguy cơ đe dọa trực tiếp, sắp xảy ra, mà hành vi đó là cách duy nhất để giải quyết tình thế cấp thiết.
- Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới (Điều 24): Không áp dụng đối với tội danh này.
3.5. Căn cứ pháp lý và văn bản hướng dẫn
Điều luật chính: Điều 157 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Văn bản hướng dẫn:
- Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS (mặc dù ban hành theo BLHS 1999 nhưng một số nội dung vẫn còn giá trị tham khảo).
- Văn bản giám định thương tật áp dụng thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích. Trường hợp cần giám định về tâm thần áp dụng Thông tư số 23/2019/TT-BYT quy định giám định tư pháp tâm thần.
- Các án lệ của TANDTC (hiện chưa có án lệ trực tiếp về tội danh này).
4. So sánh với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Luật Minh Khuê lập bảng so sánh với Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS)
| Tiêu chí | Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) | Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS) |
| Hành vi khách quan: | Hành vi bắt, giữ hoặc giam người. | Hành vi bắt, giữ người kèm theo yêu cầu về tài sản. |
| Hành vi chủ quan: | Lỗi cố ý, mục đích đa dạng (đòi nợ, giải quyết mâu thuẫn). | Lỗi cố ý, mục đích bắt buộc là chiếm đoạt tài sản. |
| Khách thể: | Quyền tự do thân thể. | Quyền tự do thân thể và quyền sở hữu tài sản. |
Phân biệt đúng tội danh giúp định tội chính xác, áp dụng đúng khung hình phạt. Nếu có mục đích chiếm đoạt tài sản, cần phải truy tố theo Điều 169, vì khung hình phạt của tội danh này nghiêm khắc hơn nhiều (từ 02 năm đến 20 năm, thậm chí tử hình).
5. Câu hỏi thường gặp có liên quan đến tội danh
Hỏi: Bắt giữ người khác để đòi nợ có phải là tội "Bắt, giữ người trái pháp luật" không?
Đáp: Có. Hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự do thân thể của người khác. Mặc dù mục đích là để đòi nợ, nhưng việc sử dụng bạo lực, ép buộc để tước đoạt tự do của người khác là hành vi trái pháp luật.
Hỏi: Tự ý bắt, giữ người đã thực hiện hành vi trộm cắp có phải là tội phạm không?
Đáp: Có thể có. Theo pháp luật, chỉ có cơ quan có thẩm quyền hoặc người được ủy quyền mới có quyền bắt giữ. Người dân chỉ được quyền bắt người phạm tội quả tang và phải giao ngay cho cơ quan công an gần nhất. Nếu bắt giữ, giam cầm người đó trong thời gian dài để "dạy dỗ" hoặc "xử lý" thì sẽ cấu thành tội danh này.
Hỏi: Tôi bị bắt giữ nhưng không bị đánh đập, vậy có được coi là hậu quả nghiêm trọng không?
Đáp: Tội danh này không đòi hỏi hậu quả vật chất. Chỉ cần hành vi bắt, giữ trái pháp luật đã xảy ra là tội phạm đã hoàn thành. Tuy nhiên, nếu bạn bị giam giữ trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, sức khỏe, thì đó có thể là tình tiết tăng nặng.
Kết luận
Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là một tội danh nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do thân thể - quyền cơ bản của con người. Việc xử lý nghiêm minh tội danh này không chỉ thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật mà còn là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Mặc dù các quy định pháp luật đã khá đầy đủ, nhưng trong thực tiễn vẫn còn một số vướng mắc, đòi hỏi cần có sự hướng dẫn chi tiết hơn, cùng với sự nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng để việc xử lý đúng người, đúng tội được đảm bảo.
Mọi vướng mắc pháp lý về việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật - Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.