Luật sư tư vấn:

- Giống nhau:

+ Đối tượng tác động: Đều là người thi hành công vụ.

+ Mặt khách quan: Đều có hành vi bắt giữ người khác... Cả hai tội phạm đều có cấu thành hình thức; Dấu hiệu hâu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.

+ Mặt chủ quan: Đều thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.

+ Chủ thể: Đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.

+ Có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Điều 169 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu thỏa mãn các yếu tô" cấu thành tội phạm.

- Khác nhau:

+ Khách thể:

Điểm c Khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015: Xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do của con người, đối tượng tác động của tội phạm có thể là con người bình thường hoặc người đang thi hành công vụ.

Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015: Xâm phạm vào hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong các lĩnh vực quản lý hành chính của Nhà nước. Mặc dù đối tượng tác động của cả hai tội phạm là người thi hành công vụ nhưng đối với tội phạm quy định tại Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 phải là người đang thi hành công vụ, tức là họ đang thực hiện công việc, nhiệm vụ vì lợi ích chung...

+ Mặt khách quan: Hành vi:

Điểm c Khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015 thể hiện ở hành vi bắt người trái pháp luật; giữ người trái pháp luật; hoặc giam người trái pháp luật.

Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015: Thể hiện ở hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ nhằm cưỡng ép họ thực hiện hành vi pháp luật hoặc cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao. Đe dọa dùng vũ lực với người đang thi hành công vụ: Dùng lời nói, cử chỉ, hành động đe dọa sẽ tấn công bằng vũ lực với người thi hành công vụ, đe dọa gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của họ để cản trở họ thi hành công vụ hoặc cưỡng ép họ làm tráipháp luật. Dùng các thủ đoạn khác đối với người đang thi hành công vụ: Uy hiếp tinh thần, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người đang thi hành công vụ, vu khống cho là đòi hối lộ, đánh người,...

+ Mặt chủ quan: Động cơ, mục đích:

Điểm c Khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015: Không phải dấu hiệu bắt buộc.

Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015: Làm cản trở hoạt động bình thường của người đang thi hành công vụ là dấu hiệu bắt buộc.

 

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn về hai tội danh trên như sau:

1. Quy định tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điểm c Khoản 2)

Hành vi bắt người trái với pháp luật được hiểu là hành vi của người không có thẩm quyền, khống chế người khác không theo đúng các quy định của pháp luật để tạm giữ hoặc tạm giam họ;

Hành vi giữ người trái luật là hành vi của người không có thẩm quyền và thực hiện không theo đúng các quy định của pháp luật để không cho người khác di chuyển vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình, trong một khoảng thời gian nhất định;

Hành vi trên đều là hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác nhưng khác nhau ở các hình thức thể hiện. Chủ thể của tội phạm có thể thực hiện một, hai hoặc đồng thời cả ba hành vi nêu trên.

Tính trái pháp luật của hành vi trên được hiểu là sự không thỏa mãn các quy định về bắt giữ hoặc giam người theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và Luật xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, pháp luật chỉ cho phép thực hiện việc bắt, tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp sau nếu thỏa mãn yêu cầu của từng trường hợp:

- Bắt giữ người phạm tội quả tàng: Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất...(Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

- Bắt người đang bị truy nã: Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt hoặc giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất... (Khoản 1 Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam: là trường hợp bắt người theo lệnh, quyết định của người, cơ quan có thẩm quyền được quy định tại Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tạm giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã (điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

- Tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Là biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý đối với người có hành vi vi phạm hành chính do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cụ thể, mà theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 17/2016/NĐ-CP ngày 17/03/2016 của Chính phủ là các trường hợp: cần ngăn chặn, đình chỉ ngay các hành vi gây rối trật tự công cộng và gây thương tích cho người khác; cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong các trường hợp mà người vi phạm có dấu hiệu bỏ trốn, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm, gây cản trở việc xử lý vi phạm, khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi bạo lực gia đình.

- Tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội theo quy định tại Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Như vậy, các trường hợp bắt, giữ hoặc giam người không đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật Xử lý vi phạm hành chính đều bị coi là trái pháp luật.

Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 377 Bộ luật hình sự là trường hợp đặc biệt (chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn) so với trường hợp quy định tại điều luật này. Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật khi hành vi này không thỏa mãn dấu hiệu của hành vi được quy định tại Điều 377 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhằm mục đích chiếm đoạt nạn nhân (dưới 16 tuổi) cũng không là hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật mà là hành vi khách quan của tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự.

Thủ đoạn thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, dùng sức mạnh về vật chất như trói, nhốt vào thùng xe, nhà kho... hoặc bạo lực về tinh thần như đe dọa bắn, đánh nếu không để cho bắt... Tuy nhiên, các thủ đoạn này không có ý nghĩa đối với việc định tội danh.

 

1.1 Quy định về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Điều 157 thuộc chương XV Bộ luật hình sự 2015 quy định tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật như sau:

"Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 069 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) ĐỐi với người đang thi hành công vụ;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu hoặc không có khả năng tự vệ;

g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bắt, giữ giam chết hoặc tự sát;

b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt giữ, giam;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

 

1.2 Dấu hiệu của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1.2.1 Khách thể của tội phạm

Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định

"Điều 20...

2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định."

Bắt, giữ hoặc giam người là hành vi xâm phạm đến quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại của con người, của công dân.

Các hoạt động bắt, giữ hoặc giam người đang được quy định chặt chẽ trong Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật còn xâm phạm những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Từ đó, khách thể của bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của con người, của công dân và các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự.

 

1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Hành vi này thể hiện trên 02 phương diện:

- Người không có thẩm quyền, không có chức năng hoạt động của nhà nước và cũng không phải trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang có lệnh truy nã nhưng vì lý do cá nhân đã có hành vi bắt, giữ, giam người trái phép.

- Người có chức năng hoạt động của nhà nước nhưng tiến hành bắt, giữ, giam người khi không đủ tài liệu chứng cứ hoặc khi đã đủ tài liệu chứng cứ về hành vi phạm tội của họ hoặc thẩm quyền, thủ tục tiến hành, thời gian không đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

Người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể thực hiện cả ba hành vi: bắt giữ hoặc giam người, nhưng cũng có thể chỉ thực hiện một trong ba hành vi đó.

Từ những quy định của pháp luật ta có thể hiểu hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gồm 03 hành vi bắt người trái pháp luật, giữ người trái pháp luật và giam người trái với pháp luật.

Bắt người trái pháp luật là hành vi bắt người mà không có lệnh của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt người có lệnh truy nã hoặc tuy có lệnh của những người có thẩm quyền nhưng việc tiến hành bắt không đúng thủ tục như bắt người vào ban đêm (Sau 22 giờ) mà không thuộc trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.

Hình thức bắt có thể là dùng vũ lực như trói, khóa tay hoạc đe dọa dùng vũ lực buộc người bị bắt phải đến nơi mà người phạm tội đã chọn. Nếu trong quá trình bắt mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, của người bị hại thì tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng với hành vi xâm phạm. Ví dụ Điều 126 - Tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội hoặc Điều 136 - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

Giữ người trái với pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giữ người không đúng với quy định của pháp luật; giữ người không có lệnh của người có thẩm quyền; giữ người thuộc trường hợp không được tạm giữ.

Giam người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giam người không đúng với quy định của pháp luật; giam người không có lệnh của người có thẩm quyền; giam người quá hạn; giam người thuộc trường hợp không được tạm giam.

Tính trái với pháp luật trong việc bắt, giữ hoặc giam người là việc bắt, giữ hoặc giam người ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Vì vậy, khi xác định hành vi bắt, giữ hoặc giam người có trái pháp luật hay không, cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật của pháp luật về việc bắt, giữ hoặc giam người. Những quy định này chủ yếu được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Hậu quả của hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật trước hết là gây ra việc một người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam trái với pháp luật. hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc mà nếu có thì là dấu hiệu định khung hình phạt.

Tội phạm hoàn thành khi có hành vi bị bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật xảy ra. Nếu người phạm tội có ý định bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đã chuẩn bị phương tiện, địa điểm, lực lượng để thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt được người bị hại thì tùy vào trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.

 

1.2.3 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể thực hiện tội bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật có thể là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ ai, là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, có thể là cá nhân hoặc có đồng phạm thực hiện tội phạm, Chủ thể của tội này có thể là một công dân bình thường nhưng cũng có thể là người có chức vụ quyền hạn được bắt giữ, giam người khác nhưng hành vi bắt, giữ giam người này trái với thẩm quyền hoặc quá thời gian luật định.

Thứ hai, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo điều 9 Bộ luật hình sự chia ra hai mức tuổi chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 16 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Khoản 2 Điều 9 quy định một số tội phạm người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không có các tội quy định tại Điều 157, khoản 1 Điều 9 quy định người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội. Do đó, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Thứ ba, chủ thể thực hiện tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi. Thiếu một trong hai năng lực này, người đó bọ coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự và được loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật hình sự hoặc bị áp dụng cấc biện pháp tư pháp theo quy định của Bộ luật này.

 

1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ mức độ nguy hiểm do hành vi bị bắt, giữ, giam người trái pháp luật, nhìn thấy trước hậu quả gây tổn hại đến thân thể, quyền tự do của nạn nhân nhưng vẫn mong muốn tội phạm xảy ra.

Nếu do thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật thì không phải là tội bắt, giữ hoặc giam người trái với pháp luật mà tùy vào trường hợp cụ thể mà hành vi của người phạm tội có thể cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính.

Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm. Người phạm tội có về tội này có thể vì động cơ và mục đích khác nhau, nhưng nếu bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật vì mục đích thực hiện một tội phạm khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội có dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Ví dụ, người bắt, giữ, giam người khác để đem bán thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người (Điều 150) hay nhằm mục đích chiếm giữ người dưới 16 tuổi thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội chiếm giữ người dưới 16 tuổi (Điều 153).

 

1.3 Khung hình phạt đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Khung hình phạt tại Khoản 1:

Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung hình phạt tại Khoản 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với người đang thi hành công vụ;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

+ Làm cho người bị bắt giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;

+ Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

Khung hình phạt tại khoản 3:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm;

+ Làm người bị bắt giữ, giam chết hoặc tự sát;

+ Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;

+ Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.

Hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 

2. Quy định tội chống người thi hành công vụ (Điều 330 Bộ luật hình sự)

Điều 330 Bộ luật hình sự quy định tội chống người thi hành công vụ như sau:

"Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ. 

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoạc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm."

Dấu hiệu pháp lý tại Điều 330 Bộ luật hình sự

Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái với pháp luật.

Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công.

Đối tượng tác động của tội phạm này là người thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công. Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ, mà tùy trường hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của nạn nhân. Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành công vụ.

Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội chống người thi hành công vụ có thể thực hiện một trong các hành vi khách quan như: Dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe dọa dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan nêu trên là tội phạm đã hoàn thành. Nhiệm vụ có thể vẫn được thực hiện, mặc dù người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe dọa dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ; dùng thử đoạn cản trở người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của các tội chống người thi hành công vụ có thể là bất kỳ ai. Họ có thể là người Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều kiện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc chương XXII Bộ luật hình sự. Như vậy, chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội chống người thi hành công vụ thực hiện hành vi do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi chống người thi hành công vụ, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn xảy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Hình phạt tại Điều 330 Bộ luật hình sự

Điều 330 Bộ luật hình sự quy định 02 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Trên đây là toàn bộ bài viết mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc tham khảo, Nếu có thắc mắc vui lòng liên hệ tời tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến hotline 1900.6162 để được chuyên viên pháp luật tư vấn trực tiếp. Xin chân thành cảm ơn!