- 1. Khái quát về đặc điểm địa lý Việt Nam
- 2. Khái quát đặc điểm tự nhiên Tây Nam Á và Bắc Phi
- 2.1 Đặc điểm tự nhiên của Tây Nam Á
- 2.2 Đặc điểm tự nhiên của Bắc Phi
- 3. Thiên nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng độ vĩ ở Tây Á, Bắc Phi nhờ?
- 4. Khái quát về biển Đông
- 5. Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam
1. Khái quát về đặc điểm địa lý Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nằm ở rìa phía đông bán đảo Đông Dương, trung tâm khu vực Đông Nam Á. Diện tích Việt Nam là 331.212 km2. Biên giới Việt Nam trên đất liền dài 4.639 km, giáp với vịnh Thái Lan ở phía tây nam, vịnh Bắc Bộ và biển Đông ở phía Đông, Trung Quốc ở phía bắc, Lào và Campuchia ở phía tây.
Hình dáng Việt Nam trên bản đồ có dạng hình chữ S, khoảng cách từ bắc tới nam (theo đường chim bay) là 1.650 km và vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây nằm ở Đồng Hới (Quảng Bình) với chưa đầy 50 km. Đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo.
Ngoài vùng nội thủy, Việt Nam tuyên bố 12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và cuối cùng là thềm lục địa. Vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km2 biển Đông.
Tuy lãnh thổ Việt Nam nằm trọn tỏng vùng nhiệt đới nhưng khí hậu Việt Nam phân bố thành 3 vùng: miền Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền trung mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong khi miền nam nằm trong vùng nhiệt đới xavan.
Đồng thời, do nằm ở rìa phía Đông Nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông (một phần của Thái Bình Dương) nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp.
Cần phân biệt vùng khí hậu ôn đới và nhiệt đới, vùng khí hậu ôn đới có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông còn vùng khí hậu nhiệt đới chỉ có hai mùa nắng và mưa. Ở Việt Nam, miền Bắc có 2 mùa (mùa xuân, thu ngắn là giai đoạn chuyển tiếp) nên nó không hoàn toàn trong vùng ôn đới, miền Nam 2 mùa nên hoàn toàn trong vùng nhiệt đới.
Nhìn chung miền Bắc đất nước có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Miền Nam thường có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô.
2. Khái quát đặc điểm tự nhiên Tây Nam Á và Bắc Phi
2.1 Đặc điểm tự nhiên của Tây Nam Á
Tây Nam á nằm trong khu vực có nhiều núi và cao nguyên, diện tích trung bình khoảng 7 triệu km2. Phía đông bắc có các dãy núi cao chạy từ bờ Địa Trung Hải nối hệ thống An-pi với hệ thống Hi-ma-lay-a, bao quanh sơn nguyên Thổ Nhĩ Kỳ và sơn nguyên Iran. Phía tây nam là sơn nguyên Arap chiếm gần toàn bộ diện tích của bán đảo Arap. Ở giữa là đồng bằng Lưỡng Hà được phù sa của hai sông Ti-grơ và Ơ-phrat bồi đắp.
Tây Nam Á có kiểu khí hậu nhiệt đới khô, riêng một phần ven Địa Trung Hải có khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải. Tây Nam Á có đường chí tuyến đi qua giữa lãnh thổ, khu vực quanh năm chịu tác động của khối áp cao cận chí tuyến nên có nền nhiệt cao quanh năm, khí hậu khô hạn ít mưa.
Đây là vùng có gió tín phong khô nóng thổi quanh năm. Mặt khác, địa hình núi và cao nguyên phân bố ở rìa lục địa phía nam đã ngăn cản các khối khí ẩm từ biển thổi vào làm cho khí hậu của vùng thêm phần khắc nghiệt.
2.2 Đặc điểm tự nhiên của Bắc Phi
Địa hình Bắc Phi nổi bật với dãy núi trẻ Át-lát, các đồng bằng ven Địa Trung Hải và hoang mạc Xa-ha-ra rộng lớn.
Mưa nhiều ở các sườn núi hướng về phía biển, nơi mọc lên những rừng sồi, dẻ rậm rạp. Vào sâu nội địa, lượng mưa giảm nhanh chóng, rừng nhường chỗ cho xavan và cây bụi phát triển.
Hoang mạc Xa-ha-ra có khí hậu khô nóng; thực vật chỉ gồm những bụi cỏ gai thưa thớt, cằn cỗi; thỉnh thoảng có ốc đảo, cây cối xanh tốt, chủ yếu là cây chà là.
Như vậy có thể thấy địa hình Bắc Phi là khu vực phía Bắc Châu Phi tiếp giáp với biển Địa Trung Hải và biển Đại Tây Dương ở phía Bắc. Nhưng vốn dĩ khí hậu nơi đây khô nóng đi kèm với dãy núi Át-lát chặn ở rìa phía bắc nên ngăn chặn gió biển thổi vào khiến cho vào sâu trong lục địa càng nóng hơn. Chỉ có khu vực đồng bằng ven biển Địa Trung Hải là có lượng mưa lớn và thiên nhiên phong phú.
3. Thiên nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng độ vĩ ở Tây Á, Bắc Phi nhờ?
Thiên nhiên nước ta bốn mùa xanh tươi khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á, Bắc Phi là nhờ thiên nhiên nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa, đặc biệt là do tác động của các khối khí di chuyển qua biển kết hợp với vai trò của biển Đông - nguồn dự trữ nhiệt, ẩm dồi dào, đã làm cho thiên nhiên nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển. Vì thế, thảm thực vật ở nước ta bốn mùa xanh tốt, rất giàu sức sống, khác hẳn với thiên nhiên một số nước.
4. Khái quát về biển Đông
Biển Đông là biển nửa kín ven lục địa, thuộc Thái Bình Dương, có diện tích 3,447 triệu km2, dài khaongr 1.900 hải lý, rộng khoảng 600 hải lý, độ sâu trung bình 1.149 mét.
Biển Đông có hai vịnh lớn là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan, có ba quần đảo: Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ. Gần 90% chu vi Biển Đông được bao quanh bởi 9 quốc gia ven biển (Trung Quốc, Việt Nam, Cam-pu-chia, Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Sin-ga-po, In-đô-nê-xia, Bru-nây và Phi-lip-pin). Phần còn lại của biển Đông thông ra Thái Bình Dương qua eo biển Ba-si và thông ra Ấn Độ Dương qua eo biển Ma-lắc-ca.
Biển Đông nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa và tính chất khép kín của biển Đông được thể hiện qua các yếu tố hải vân (nhiệt độ, độ muối của biển, sóng, thủy triều, hải lưu và sinh vật biển).
Các đặc điểm trên của biển Đông ảnh hưởng mạnh mẽ đến thiên nhiên phần đất liền và làm cho thiên nhiên nước ta có sự thống nhất giữa phần đất liền và vùng biển.
5. Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam
Nhờ có Biển Đông nên khí hậu nước ta mang tính hải dương điều hòa, lượng mưa nhiều, độ ẩm tương đối của không khí trên 80%. Giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô vào mùa đông, làm dịu bớt thời tiết nóng bức vào mùa hạ. Biển Đông làm biến tính các khối khí đi qua biển vào nước ta.
Biển Đông đã tạo địa hình ven biển nước ta rất đa dạng, đặc trưng địa hình vùng biển nhiệt đới ẩm với tác động của quá trình xâm lược - bồi tụ diễn ra mạnh mẽ trong mối tương tác giữa biển và lục địa. Đó là các dạng địa hình vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu có bãi triều rộng, các bãi cát phẳng, cồn cát, các đầm phá, các vũng vịnh nước sâu, các đảo ven bờ và những rạn san hô,...
Các hệ sinh thái vùng ven biển rất đa dạng và giàu có: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đất phèn, rừng trên các đảo, nước lợ,..
-Bão: Mỗi năm trung bình có 9-10 cơn bão xuất hiện ở biển Đông, trong đó có 3-4 cơn bão trực tiếp đổ vào nước ta, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, nhất là với cư dân sống ở vùng ven biển nước ta.
- Sạt lở bờ biển: hiệt tượng sạt lở bờ biển đã và đang đe dọa nhiều đoạn bờ biển nước ta, nhất là dải bờ biển Trung Bộ.
- Ở vùng ven biển miền Trung còn chịu tác hại của hiện tượng cát bay, cát chảy lấn chiếm ruộng vườn, làng mạc và làm hoang mạc hóa đất đai.
Biển Đông là vùng biển quan trọng của Việt Nam. Có trữ lượng tài nguyên rất lớn và vị trí địa lý rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thiên nhiên và quá trình giao lưu hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Sử dụng hợp lí nguồn lợi thiên nhiên,, phòng chống ô nhiễm môi trường biển, thực hiện những biện pháp phòng tránh thiên tai là những vấn đề hệ trọng trong chiến lược khai thác tổng hợp, phát triển kinh tế biển của nước ta.
Trên đây là các nội dung liên quan đến Thiên nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng độ vĩ ở Tây Á, Bắc Phi nhờ? Hy vọng các thông tin này hữu ích và giúp các bạn giải đáp thắc mắc. Luật Minh Khuê xin chân thành cảm ơn!