1. Khái quát về tỉnh Phúc Kiến, Thổ lâu ở Phúc Kiến là gì?
1.1 Khái quát về tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc
-Vị trí địa lý: Phúc Kiến là một tỉnh nằm ở ven biến Đông của đại lục Trung Quốc.Năm 2018 Phúc Kiến là tỉnh đông thứ mười lăm về số dân, đứng thứ 10 về kinh tế Trung Quốc với 34,9 triệu dân và GDP đạt 3.580 tỉ NDT (541,1 tỉ USD) tương đương với Bỉ hoặc Ba Lan. Phúc Kiến có chỉ số GDP đầu người đứng thứ sáu Trung Quốc, đạt 92.080 NDT (tương đương 13.731 USD). Các dân tộc chủ yếu sinh sống trong tỉnh này là Hán, Xa, Hồi. Ngôn ngữ sử dụng chủ yếu: tiếng Mán, tiếng Khánh Gia
Tỉnh Phúc Kiến giáp với Chiết Giang ở phía Bắc, với Giang Tây ở phái Tây và với Quảng Đông ở phía nam. Phía Nam giáp với Đài Loan. Tên gọi Phúc Kiến bắt nguồn từ việc kết hợp tên gọi của hai thành Phúc Châu và Kiến Châu (tên cũ của Kiến Âu) trên địa phận vào thời Nhà Đường. Tỉnh có đại đa số dân cư là người Hán và la một trong những tỉnh có văn hóa và ngôn ngữ đa dạng nhất tại Trung Quốc. Hầu hết tỉnh Phúc Kiến do Công Hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát. Tuy nhiên một số quần đảo Kinh Môn và Mã Tổ nằm dưới quyền kiểm soát của Đài Loan.
-Lịch sử: Từ thời tiền sử những khám phá khảo cổ học gần đây đã chứng minh rằng dân cư bản địa ở tỉnh Phúc Kiến đã tiến vào thời kì đồ đá. Đến thời Vương quốc Mân Việt khu vực Phúc Kiến từng tại vương quốc Mân Việt. Đến đời nhà Tần nhà Tần bãi bỏ vương quốc Nâm Việt khi nhà Tần tan rã nhà Hán lên ngôi Mân Việt được phong là một vương quốc Chư Hầu và Vô Chư được nhà Hán cho phép xây thành phòng phủ ở Phúc Châu cũng như một số địa điểm khác tại Vũ Di Sơn thuộc tỉnh Phúc Kiến Hiện nay. Đến thời nhà Hán Vô Chư chết vương quốc Mân Việt đã duy trì truyền thống chiến đấu của mình tiến hành một số cuộc viễn chinh chôn lại các nước chư hầu láng giềng. Để loại bỏ mối nguy hiểm tiền tàng nhà Hán đã man quân tấn công Mân Việt kết thúc vương quốc đầu tiên tồn tại trên tỉnh Phúc Kiến. Đến thời nhà Tấn Phúc Kiến trở thành địa điểm để lưu đầy và đến thời Nam Bắc Triều Phúc Kiến nằm dưới sự quản lý của vương triều phương Nam. Qua các thời kì nhà Đường, nhà Minh, Nhà Minh - Thanh, thời dân quốc và Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến luôn có sự thay đổi theo thời gian và tình hình kinh tế xã hội.
1.2 Thổ lâu ở Phúc Kiến là gì?
Thổ lâu ở tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc có thể được hiểu với một số cách hiểu như sau:
-Thổ lâu Phúc Kiến là một một quần thể các ngôi nhà bằng đất được xây dựng hết sử động đáo của người Khánh Gia (Hakka) và các dân tộc khác sinh sống tại các vùng núi ở phía tây năm tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Phần lớn các dãy nhà được xây dựng trong thời gian thế kỷ XII đến thế kỷ XX
-Thổ lâu cũng là tên để chỉ những ngôi nhà có nhiều hình dạng khác nhau như hình vuông, bàu dục và ngũ giác ở Phúc Kiến. Tên "Thổ Lâu" trong tiếng Trung Quốc ngụ ý rằng nhà được làm từ đất.
2. Kiến Trúc độc đáo của Thổ Lâu
Thổ Lâu có kiến trúc độc đáo phần nhiều vì lịch sử hình thành của công trình này. Thổ Lâu gắn với các cuộc di cư của người Hán xuống Miền Nam cùng sinh sống chung với dân tộc Bách Việt. Tại đây họ luôn gặp phải những vấn đề như sự tấn công của thú dữ, thổ phỉ, và xung đột người bản địa. Đó là những yếu tố khiến những người di cư này hình thành ý tưởng xây dưng một ngôi nhà chung ở được nhiều người và kiên cố để cùng nhau đối phó và giải quyết các vấn đề trên.
Mỗi dãy nhà Thổ Lâu sẽ có hình dạng phổ biến là hình tròn hoặc hình chứ nhật, với những bức tường có độ dày rất lớn cao từ ba đến năm tầng, bên trong lợp ngói bên trên cũng lợp ngói với những bức tường có độ cao từ ba đến năm tầng có sức chứa có thể lên đến 800 người. Bên trong bức tường có độ dày này là những sảnh, nhà kho, giếng và khu vực sinh hoạt. Nơi đây không chỉ để ở mà còn là "pháo đài" bảo vệ nên độ cao của các tòa có thể lên đến 4, 5 tầng. Thổ Lâu cũng chỉ có một của ra vào (lối ra vào chính) và không có cửa sổ ở tầng trệt.Cửa ra vào duy nhất (cổng) là trọng yếu thường được gia cố vững chắc bằng đá và sắt, để phòng chống hỏa hoạn và sư tấn công từ bên ngoài của thú dữ hoặc tránh xung đột.
Bên trong Thổ Lâu được chia thành các phòng và gia phòng khác nhau dành cho các hộ gia đình sinh sống. Khác hẳn với bên ngoài, bên trong thổ lâu được thiết kế tinh tế rất tinh tế mang lại không khí ấm áp khi mùa đông đến và mát mẻ vào mùa hè. Thổ lâu cũng có thể chịu được những trận động đất mạnh đó là một điểm đặc biệt và độc đáo trong kiến trúc xây dựng của công trình này. Bên cạnh đó có một điểm chung tại của Thổ Lâu là tầng một được sử dụng làm bếp ăn kiêm phòng khách, tầng hai là nơi dự trữ lương thực, phòng ngủ được bố trí từ tầng ba trở lên và ở phòng ngủ khác với tầng trệt đó là có những ô cửa sổ nhỉ để thoáng khí và những ô cửa đó cũng làm nhiệm vụ là những lỗ châu mai phòng thủ và tấn công lại các mối nguy hại tập kích từ bên ngoài. Phổ Lâu có quy mô lớn nhỏ khác nhau. Có thể kể đến những thổ lâu lớn và tiêu biểu được nhiều người biết đến ở Phúc Kiến như: Thừa Khải Lâu, Vĩnh Xương Lâu, Phúc Dụ Lâu, Điền Loa Khanh,...
3. Phổ Lâu Phúc Kiến có nguồn gốc từ dân tộc nào.
Phổ lâu được xây dựng từ thế kỷ XII đến thế kỷ XX do người Hán di cư xuống phía nam thiết kế và xây dựng nhằm mục đích đoàn kết nhau lại để phòng vệ và sinh sống trong vùng đất mới. Vì vậy một số người nghĩ rằng các phổ Lâu này có nguồn gốc từ người Hán nhưng thực ra các công trình trên có nguồn gốc từ người Khách Gia ( là một bộ phận gốc Hán di cư xuống miền Nam). Cũng không ít người quan điểm Khách Gia là một dân tộc thiểu số của Trung Quốc và không có mối quan hệ gì liên quan đến người Hán. Nhưng chúng ta cần hiểu bản chất những người Khách Gia này là người Hán vì họ là con cháu lâu đời của người Hán và mang gốc gáp của người Hán.
-Có một số cách hiểu và cách gọi về người Khách Gia nhưng phổ biến nhất là cách gọi người Khách Gia (theo tiếng Hán) và theo tiếng Anh (Bắt nguồn từ vùng Quảng Đông) người Khách Gia còn có tên gọi khác là người Hakka
+Người Khách Gia theo tiếng Hán là cụm từ dùng để chỉ người Hán di cư từ đến phương Nam. Dù an cứ lập nghiệp ở nơi ở mới những những người Hán này vẫn không từ bỏ gốc gáp là người Hán của mình và qua rất nhiều năm những người di cư này vẫn chỉ nhận mình là người khách xa nhà. Có thể hiểu theo nghĩa tiếng Việt của từ Khách Gia như sau: "Khách" là những người hành khách, người phương xa đến và không phải người có gốc gáp ở nơi người đó đến. "Gia" ở đây có nghĩa là gia đình là nhà, có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn từ "gia" nghĩa là cố hương, là nguồn gốc là quê hương nơi người đó sinh ra vì vậy hai từ "Khách gia" được hiểu nghĩa là những người khách xa nhà. Ngoài ra có một căn cứ kháóng tron cuộc chiến với quân Nguyên rất nhiều người Hán di cư đến phương Nam và khi đăng ký xung quân ở nhiều địa phương phần hộ tịch đó có sự phân biệt giữa "chủ" và "khách" nên được gọi là "khách tịch".
+Người Khách Gia gọi theo tiến Anh còn có tên khác là người Hakka (từ này có nguồn gốc theo cách phát âm tiếng Quảng Đông). Vì vậy mà kiến trúc Thổ Lâu được người phương tây gọi là Hakka House (nghĩa là nhà của người Hakka cũng có nghĩa là nhà của người Khách Gia) hoặc Hakkas's Earth Building (thổ lâu của người Hakka, cũng có nghĩa là Thổ Lâu của người Khách Gia).
Xem thêm >>> Sông Hoàng Hà và Trường Giang đã tác động như thế nào đến cuộc sống của cư dân Trung Quốc thời cổ đại?