1. Thời gian giải quyết nội dung đơn tố cáo?

Em bị người khác hiểu lầm nên họ đã bôi nhọ,nói xấu và vu khống lên mạng xã hội facebook bằng những lời nói không hay đi kèm là những hình ảnh của em và người yêu em (nay là vợ) đăng lên group ở công ty. Phòng đó có 28. 000 thành viên và chủ yếu nhân viên trong công ty.

Thêm vào đó họ còn nhắn tin với vợ em nhằm chia rẽ 2 vợ chồng. Họ lại vu khống,nói xấu mẹ em cho vợ em biết. Em đã làm đơn, và một thời gian rất lâu không thấy phản hồi. Em có gọi điện cho công an họ nói đã gửi tra cứu lên tỉnh rồi. Tỉnh trả lời tra cứu sau gửi về huyện mới có quyết định xử phạt. Chắc tuần sau có thông báo nhưng chưa chắc chắn ngày nào. Anh chị tư vấn cho em hỏi là công an nói vậy có đúng quy trình xử lý đơn tố cáo không ạ. Nếu mà có quyết định xử phạt thì họ sẽ thông báo cho em biết chứ ạ. Nếu mà hơn 2 tháng công an không xử lý xong đơn tố cáo của em thì em sẽ viết đơn như thế nào và gửi cho ai. Trường hợp người bôi nhọ như trên thì bị xử lý như thế nào ạ ?

Thời gian giải quyết nội dung đơn tố cáo được quy định như thế nào?

Tư vấn:

Thứ nhất, về quy trình xử lí hồ sơ của công an như sau:

Điều 8. Tiếp nhận, xử lý tố cáo tiếp và giải quyết lại tố cáo (Thông tư 06/2013/TT-TTCP quy định quy trình giải quyết tố cáo)

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo xem xét, xử lý như sau:

a) Trong trường hợp đã quá thời hạn giải quyết tố cáo mà vụ việc chưa được giải quyết hoặc có nội dung tố cáo chưa được giải quyết thì yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết tố cáo phải giải quyết, đồng thời yêu cầu báo cáo rõ lý do về việc chưa giải quyết tố cáo.

b) Đối với tố cáo đã được giải quyết đúng pháp luật nhưng có tình tiết mới chưa được phát hiện trong quá trình giải quyết tố cáo có thể làm thay đổi kết quả giải quyết tố cáo thì yêu cầu người đã giải quyết tố cáo phải tiếp tục giải quyết tố cáo đó theo thẩm quyền.

c) Khi phát hiện một trong những dấu hiệu vi phạm pháp luật được quy định tại Khoản 2 Điều này thì phải thụ lý, giải quyết lại tố cáo đó. Trình tự, thủ tục giải quyết lại tố cáo được thực hiện theo quy định tại Thông tư này.

d) Trong trường hợp tố cáo tiếp không có tình tiết mới, không phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật thì không thụ lý giải quyết, đồng thời thông báo bằng văn bản cho người tố cáo, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư này.

Căn cứ Điều 30 Luật tố cáo năm 2018 số 25/2018/QH14 thì thời hạn để giải quyết đơn tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo. Đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Người giải quyết tố cáo quyết định bằng văn bản việc gia hạn giải quyết tố cáo và thông báo đến người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thứ hai, về chế tài xử lí người vu khống. Theo Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

...

Ngoài ra, nếu người vu khống bạn là viên chức thì họ còn có thể bị xử lí theo Điều 52 Luật viên chức năm 2010 .

Điều 52. Các hình thức kỷ luật đối với viên chức

1. Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Cách chức;

d) Buộc thôi việc.

...

>> Xem thêm:  Đe dọa tung ảnh nóng lên mạng xã hội theo pháp luật thì bị xử lý như thế nào ?

2. Cách thức xử lý đơn tố cáo của công dân ?

Xin hỏi: Có khái niệm "Đơn kiến nghị mang nội dung tố cáo" không? Thực tế UBND xã nhận được 1 lá đơn của 1 công dân có tên X, có HKTT tại địa phương kiến nghị UBND xã về việc: tôi phát hiện 1 công dân đã lợi dụng vị trí của mình để thu của nhân dân, giữ lại, không công khai số tiền là 68 triệu 800 ngàn đồng (thu của 43 người). Thu và sử dụng sai mục đích số tiền là 107 triệu 300 ngàn đồng (của 43 người). Vậy UBND xã phải xử lý đơn theo quy trình nào?

Cách thức xử lý đơn tố cáo của công dân ?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, không có khái niệm “Đơn kiến nghị mang nội dung tố cáo”.

Kiến nghị và tố cáo là hai hình thức văn bản hành chính riêng biệt, phục vụ những mục đích khác nhau, được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật.

Kiến nghị là việc cá nhân hoặc tổ chức (chủ thể kiến nghị) đưa ra ý kiến để phản ánh, đề nghị với cấp có thẩm quyền xử lý, điều chỉnh một lĩnh vực hay giải pháp đã được triển khai thực hiện mà chủ thể kiến nghị cho rằng các giải pháp, hình thức quản lý đó không hiệu quả, không phù hợp, có thể hoặc đã gây hậu quả xấu đến hoạt động bình thường của nhà nước và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tập thể. Chủ thể kiến nghị có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Luật tố cáo năm 2018 số 25/2018/QH14 ). Chủ thể tố cáo là cá nhân.

Trên thông tin lá đơn của công dân X có nêu đã phát hiện 1 công dân khác đã lợi dụng vị trí của mình để thu, giữ lại không công khai số tiền là 68 triệu 800 ngàn đồng (thu của 43 người) và thu, sử dụng sai mục đích số tiền 107 triệu 300 ngàn đồng (thu của 43 người). Trường hợp này, người đó đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện 1 hành vi vi phạm pháp luật, công dân X phát hiện và có quyền tố cáo hành vi trên bằng cách báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân đó thông qua đơn tố cáo hoặc đến tố cáo trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền.

Quy trình xử lý của UBND xã:

1. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo:

Thẩm quyền: chủ tịch UBND xã; sau đó chuyển đơn đến bộ phận xử lý đơn thư để xử lý.

Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo.

Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày.

2. Xác minh nội dung tố cáo;

Người giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo.

Người xác minh nội dung tố cáo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập các thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo. Thông tin, tài liệu thu thập phải được ghi chép thành văn bản, khi cần thiết thì lập thành biên bản, được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc tố cáo.

3. Kết luận nội dung tố cáo;

Căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo.

4. Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo;

Sau khi có kết luận về nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo phải căn cứ kết luận nội dung tố cáo để xử lý như sau:

a) Đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thuộc thẩm quyền xử lý của mình thì người giải quyết tố cáo ban hành quyết định thu hồi tiền, tài sản; thực hiện các thủ tục để xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để xử lý vi phạm, buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.

b) Đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý của mình thì người giải quyết tố cáo chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó xử lý vi phạm và buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.

c) Đối với hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì có văn bản chuyển hồ sơ về hành vi vi phạm đó cho Cơ quan điều tra. Hồ sơ bàn giao cho Cơ quan điều tra là hồ sơ được lập trong quá trình giải quyết tố cáo và phải được sao lại để lưu trữ.

d) Đối với hành vi vi phạm pháp luật không thuộc những trường hợp trên thì có văn bản kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý vi phạm, đồng thời gửi kèm hồ sơ về hành vi vi phạm đó.

...

5. Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

3. Viết đơn tố cáo hành vi bạo lực gia đình, đe dọa giết người ?

Xin hỏi: Tôi muốn viết đơn tố cáo về hành vi bạo lực gia đình, đe dọa giết người, xúc phạm nhân phẩm người khác và sử dụng tài khoản cá nhân của người khác với mục đích xấu.

Các bằng chứng tôi có được:

1. Hangout trên gmail về hành vi đe dọa giết tôi và giết cả nhà tôi, và hành vi sỉ vả nhân phẩm vô căn cứ của người đó.

2.Người đó đã dùng dao gí vào cổ, đe dọa tôi, bắt tôi gọi điện thoại cho vài người để nói điều hắn muốn

3.Người đó đã đánh tôi, xô đẩy tôi

4. Sử dụng tài khoản cá nhân của tôi gửi mail và nói chuyện không hay với những người bạn của tôi, và phá hạnh phúc người khác để người khác nhắn tin sỉ vả tôi

5. Đoạn ghi âm ghi lại hành vi muốn thuê giang hồ giết hai em của tôi.

6. Ngày hiện tại tôi vẫn bị đe dọa.

Vậy với những hành vi trên có thể viết đơn tố cáo không? Và theo đánh giá quý công ty thì có truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Tư vấn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo năm 2018 số 25/2018/QH14, thì những bằng chứng mà bạn vừa cung cấp, bạn hoàn toàn có thể viết đơn tố cáo người có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 9 và khoản 2 Điều 19 Luật tố cáo 2011, bạn cần lưu ý về hình thức đơn tố cáo và những nghĩa vụ sau để tránh trường hợp đơn tố cáo không được thụ lý.

Theo Khoản 2 Điều 9 Luật tố cáo năm 2018 số 25/2018/QH14 quy định:

"Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;

d) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra."

Theo Điều 22 Luật tố cáo năm 2018 số 25/2018/QH14 quy định:

Điều 22. Hình thức tố cáo

Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Theo quy định Luật tố cáo năm 2018 số 25/2018/QH14, nếu trong quá trình xác minh phát hiện thấy có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo có trách nhiệm chuyển hồ sơ, tài liệu và những thông tin về vụ việc tố cáo đó cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

4. Rút lại đơn tố cáo thực hiện như thế nào ?

Em có làm đơn khởi tố một người về hành vi đe dọa rồi cưỡng dâm. Nhưng qua ngày hôm sau em có làm đơn rút lại đơn khởi tố đó. Bên công an (1 cá nhân) có mời bên kia lên làm việc và làm tiền người đó. Trong khi em đã làm đơn rút nhưng bên công an lại nói bên kia là chưa và đã moi tiền được 10 triệu đồng rồi. Hôm nay hẹn sẽ lấy 10 triệu đồng nữa. Bên công an vẫn chưa biết là em biết chuyện ăn tiền đó.
Và em không muốn người công an đó lấy chặn tiền thêm nữa. Em định sẽ đi cùng bên bị cáo đến chỗ hẹn giao 10 triệu còn lại. Bên công ty tư vấn giúp em là liệu làm thế có ảnh hưởng gì tới 2 bên không và phải làm thế nào để người công an đó không vòi tiền thêm được nữa ?
Tư vấn:

Theo điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

...

Như vậy, nếu vụ án của bạn thuộc đối tượng được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì khi bạn rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, cơ quan điều tra sẽ phải đình chỉ điều tra, còn nếu không thuộc các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan điều tra vẫn tiến hành giải quyết.

Việc người công an đó trong quá trình xem xét việc rút đơn yêu cầu khởi tố của bạn và mời người bị khởi tố lên để moi tiền là hành vi trái pháp luật. Để không bị người công an đó vòi tiền nữa thì bạn có thể tố cáo hành vi của người này với Thủ trưởng cơ quan công an hoặc Viện kiểm sát hoặc Tòa án cùng cấp. Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Người công an đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong các tội sau quy định tại Bộ luật hình sự:

Cấu thành tội nhận hối lộ:

Theo Điều 354 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản:

Theo Điều 355 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm

Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân bị coi là tội phạm khi:

+ Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên

+ Giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng

+ Giá trị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lí kỉ luật về hành vi này mà còn vi pham

+ Giá trị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội quy định từ Điều 278 đến Điều 284 Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

5. Bị hiếp dâm nhưng chưa thành thì có quyền tố cáo không ?

Xin hỏi: có một ông này ở gần nhà tôi sang nhà tôi gọi mẹ tôi về bán hàng mẹ tôi gặp ông này có mời vào trong nhà ngồi uống nước để chờ mẹ tôi lấy hàng cho ông đấy.

Trong thời gian mẹ tôi lấy hàng ông này có lẻn vào kho hàng, hung dữ chốt cửa lôi, nắm tay mẹ tôi rất chặt và định hiếp dâm mẹ tôi trong kho, do mẹ tôi sợ ông này làm liều nên không giám la hét gì. Đang trong lúc mẹ tôi đôi co với ông ấy thì bố tôi về bất chợ thì bố tôi đi vào và thấy ông đó nên đã nắm cổ áo hỏi ông ấy làm gì trong phòng kho nhà tôi ông ấy không trả lời gì mà quay lại đánh bố tôi và sau đó bố tôi dùng đồ đạc đánh lại ông ấy khiến cho ông ấy bị rách mặt một lúc sau ông ta chạy được ra ngoài thì cầm gạch ném bố tôi nhưng không trúng nên ông ta lấy xe máy về nhà gọi thêm anh em vào đòi đánh bố tôi và chưa đánh được bố tôi thì đã bị công an xã mời cả hai bên về uỷ ban xã để làm việc.

Vậy luật sư cho tôi hỏi trong trường hợp này mẹ tôi bị ông kia hiếp dâm nhưng chưa thành có thể viết đơn tố cáo ông ta về hành vi hiếp dâm được không và bố tôi đánh ông ta trong trường hợp này thì có bị xử lý hình sự không ?

Bị hiếp dâm nhưng chưa thành thì có quyền viết đơn tố cáo được không ? có xử lý hình sự được không ?

Trả lời:

- Về hành vi hiếp dâm của người đàn ông kia:

Căn cứ vào Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội hiếp dâm như sau: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...

Trong trường hợp này, người đàn ông kia có hành vi dùng vũ lực đó là lôi tay, chốt cửa và đôi cô với mẹ bạn nhằm thực hiện mục đích của mình, tuy nhiên người đàn ông kia đã không đạt được mục đích do bố bạn kịp thời về và ngăn chặn hành vi đó. Có thể thấy, trong trường hợp này có dấu hiệu của tội hiếp dâm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt căn cứ Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do vậy, mẹ bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm đối với hành vi của người đàn ông kia. Đơn tố giác có thể được gửi đến cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác. Do trường hợp của mẹ bạn có dấu hiệu tội phạm của tội hiếp dâm bởi vậy cần trải qua quá trình xác minh của Cơ quan điều tra.

- Về hành vi của bố bạn đánh người đàn ông kia:

Theo như thông tin bạn cung cấp, bố bạn có thể bị khởi tố về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, nếu người đàn ông kia bị tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì bố bạn sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?