1. Các tội không phải tội xâm phạm an ninh quốc gia có thời hạn điều tra trong bao lâu?
Thời hạn điều tra là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó, cơ quan điều tra có thẩm quyền được thực hiện các hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác của vụ án, hoàn thành việc điều tra vụ án hình sự. Thời hạn điều tra được tính từ ngày khởi tố vụ án đến ngày kết thúc điều tra, Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định số ngày tối đa giới hạn điều tra theo luật.
Theo Điều 172 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 việc quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự sẽ căn cứ vào việc phân loại tội phạm của vụ án đó.
Xem thêm: Phân loại tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự
Theo đó thì các tội không phải là các tội xâm phạm an ninh quốc gia sẽ được phân loại thành tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Điểm khác biệt giữa các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia và các tội không xâm phạm đến an ninh quốc gia là các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia được phép gia hạn thêm một lần nhưng không quá 04 tháng. Tức là sẽ có 5 lần gia hạn đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng của các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia.
Về thời hạn điều tra của các tội không xâm phạm đến an ninh quốc gia sẽ được Luật Minh Khuê tổng hợp qua bảng sau giúp quý khách có thể hiểu một cách đơn giản, tổng quan nhất:
|
| Ít nghiêm trọng | Nghiêm trọng | Rất nghiêm trọng | Đặc biệt nghiêm trọng |
| Thời hạn thông thường | Không quá 02 tháng | Không quá 03 tháng | Không quá 04 tháng | Không quá 04 tháng |
| Gia hạn lần 1 | Không quá 02 tháng | Không quá 03 | Không quá 04 tháng | Không quá 04 tháng |
| Gia hạn lần 2 |
| Không quá 02 tháng | Không quá 04 tháng | Không quá 04 tháng |
| Gia hạn lần 3 |
|
|
| Không quá 04 tháng |
| Gia hạn lần 4 |
|
|
| Không quá 04 tháng |
| Tổng thời gian điều tra | Không quá 04 tháng | Không quá 08 tháng | Không quá 12 tháng | Không quá 20 tháng |
2. Ai có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự?
Căn cứ Điều 163 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì thẩm quyền điều tra được quy định theo các vụ việc và được phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:
- Tất cả cá tội phạm sẽ do Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra. Chỉ trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự sẽ do Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra
- Các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp thì sẽ do Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương tiếp nhận điều tra
- Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.
Việc phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:
- Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực
- Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp huyện xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra
+ Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra
- Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng điều tra vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Như vậy với tất cả vụ án hình sự (bao gồm cả vụ án liên quan đến các tội xâm phạm an ninh quốc gia) thì thẩm quyền điều tra sẽ được phân cấp theo vụ việc như trên.
3. Ai có thẩm quyền gia hạn điều tra các vụ án hình sự?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 172 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền gia hạn điều tra các vụ án hình sự. Theo đó:
- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra
- Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai
- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai
- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.
Đối với trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Và đó là toàn bộ thông tin về Thời hạn điều tra đối với các tội không phải là các tội xâm phạm an ninh quốc gia do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn nhằm muốn giúp quý khách có thể tham khảo và hiểu sâu các vấn đề pháp lý liên quan. Nếu quý khách có bất kỳ vướng mắc pháp lý nào, quý khách có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để nhận được sự trợ giúp từ phía Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời!
Ngoài ra, nếu quý khách cũng có thể gửi yêu cầu tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin phản hồi tư vấn sớm nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!