1. Ý nghĩa của phân loại tội phạm

Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy định các nguyên tắc xử lý, quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án và các quy định khác về điều kiện áp dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp v.v... Phân loại tội phạm còn là cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự, quy định khung hình phạt, bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt. Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa đối với việc quy định một số chế định tạm giam, tạm giữ, thẩm quyền xét xử, thời hạn xét xử.v.v... trong Bộ luật tố tụng hình sự.

Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ chia tội phạm ra thành hai loại: Tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, nhưng chỉ nêu khái niệm về tội phạm nghiêm trọng mà không nêu khái niệm tội phạm ít nghiêm trọng, nhưng căn cứ vào khái niệm về tội phạm nghiêm trọng người ta cũng có thể hiểu được tội phạm ít nghiêm trọng là những tội phạm nào. Theo khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985 thì tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Những tội phạm khác là tội ít nghiêm trọng. Từ quy định này, ta có thể suy ra tội ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội, mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ cảnh cáo đến năm năm tù. Cách phân loại tội phạm như Bộ luật hình sự năm 1985 rõ ràng là không hợp lý, chưa thể hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, và trong thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp chưa bảo đảm tính công bằng trong việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Ví dụ: Một người phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 có khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù là tội phạm nghiêm trọng, khi xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, cũng giống như trường hợp một người phạm tội giết người quy định tại khoản 1 Điều 101 có khung hình phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Bộ luật hình sự năm 1999 chia tội phạm ra làm bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đây là điểm mới cơ bản của Bộ luật hình sự năm 1999 so với Bộ luật hình sự năm 1985, cũng từ quy định mới này, kéo theo nhiều quy định mới khác trong Bộ luật hình sự. Việc phân tội phạm thành bốn loại có ý nghĩa to lớn về lý luận cũng như thực tiễn; về lập pháp cũng như áp dụng pháp luật hình sự như xây dựng các chế định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, về chuẩn bị phạm tội, về tái phạm, tái phạm nguy hiểm, về điều kiện áp dụng các loại hình phạt. Việc phân loại tội phạm như trên còn có ý nghĩa về tố tụng hình sự như về quy định các thời hạn, về điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn...; góp phần thực hiện nguyên tắc của Luật hình sự là xử lý không phân biệt, cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong xử lý tội phạm.v.v...

Tiêu chí để phân loại tội phạm là tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, chứ không chỉ căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt như cách phân loại tội phạm của Bộ luật hình sự năm 1985, tránh được cách hiểu và nhận thức khác nhau về tội phạm, nếu quy định như Bộ luật hình sự năm 1985 có ý kiến cho rằng các tội có mức cao nhất của khung hình phạt dưới năm năm tù thì không phải là tội ít nghiêm trọng.

Việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt, chứ không phải căn cứ vào mức cao nhất của hình phạt đối với điều luật quy định về tội phạm đó. Do cấu tạo của Bộ luật hình sự nên có tội phạm điều luật chỉ quy định một khung hình phạt. Ví dụ: Tội giết con mới đẻ quy định tại Điều 94 Bộ luật hình sự chỉ có một khung hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Nhưng đa số tội phạm điều luật quy định nhiều khung hình phạt mỗi khung hình phạt tương ứng với một khoản của điều luật. Ví dụ: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự có tới bốn khung hình phạt tương ứng với bốn khoản (trừ Khoản 5 quy định hình phạt bổ sung). Trong đó, Khoản 1 có khung hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm; Khoản 2 có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù; Khoản 3 có khung hình phạt từ năm năm đến mười lăm năm tù và Khoản 4 có khung hình phạt từ mười năm đến hai mươi năm tù hoặc tù chung thân. Có thể nói tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác là tội phạm được cấu tạo bao gồm đầy đủ cả bốn loại tội: Khoản 1 là tội phạm ít nghiêm trọng, khoản 2 là tội phạm nghiêm trọng, khoản 3 là tội phạm rất nghiêm trọng, khoản 4 là tội phạm đắc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên không phải tội phạm nào cũng được cấu tạo như tội có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác mà tuỳ thuộc vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà nhà làm luật quy định là loại tội phạm nào. Có tội phạm luôn luôn là tội ít nghiêm trọng. Ví dụ: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 106 Bộ luật hình sự, cả khoản 1 và khoản 2 đều là tội phạm ít nghiêm trọng; có tội phạm luôn luôn là tội đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ: Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự, tội chống loài người quy định tại Điều 342 Bộ luật hình sự, tội phạm chiến tranh quy định tại Điều 343 Bộ luật hình sự; có tội phạm vừa tội ít nghiêm trọng vừa là tội nghiêm trọng hoặc vừa là tội nghiêm trọng vừa là tội rất nghiêm trọng hoặc vừa là tội rất nghiêm trọng vừa là tội đặc biệt nghiêm trọng... Vì vậy, khi cần xác định tội phạm nào là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng phải căn cứ vào khung hình phạt đôì với tội ấy.

>> Xem thêm: Cách phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự?

 

2. Tội phạm ít nghiêm trọng

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù.

Trước hết, căn cứ để xác định tội phạm ít nghiêm trọng là hành vi phạm tội gây nguy hại cho xã hội không lớn. Đại lượng không lớn mà nhà làm luật quy định có thể được xác định ngay trong điều luật. Ví dụ: gây thương tích cho người khác mạ tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% (khoản 1 Điều 104) hoặc trộm cắp tài sản từ 2.000.000 đến 50.000.000 đồng (khoản 1 Điều 138). Nhưng cũng có thể do các cơ quan tiến hành tố tụng xác định. Ví dụ: hành vi dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội (Điều 130) phải có sự đánh giá thế nào là hành vi nghiêm trọng khác, hoặc nếu xác định hành vi phạm tội chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa phải là tội phạm nghiêm trọng mà vẫn là tội phạm ít nghiêm trọng. Ví dụ: Một người trộm cắp từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 nếu chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì vẫn thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng, nhưng nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng. Như vậy, nhà làm luật chỉ đưa ra tiêu chí để phân biệt tội phạm, và trong nhiều trường hợp tiêu chí đó đã được quy định ngay trong điều khoản của Bộ luật hình sự, nhưng cũng không ít trường hợp việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng lại do chính các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bộ luật hình sự quy định tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà không quy định gây thiệt hại không lớn cho xã hội. Do đó, cần phải hiểu rằng nguy hại cho xã hội và thiệt hại cho xã hội không phải là một, có trường hợp chưa gây thiệt hại nhưng đã gây nguy hại lớn cho xã hội. Ví dụ: Hành vi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân mặc dù chưa gây thiệt hại (chưa lật đổ được chính quyền nhân dân) vẫn bị coi là hành vi gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội (Điều 78 Bộ luật hình sự). Ngược lại, có hành vi gây thiệt hại lớn cho xã hội nhưng lại chưa bị coi là gây nguy hại lớn cho xã hội. Ví dụ: Hành vi cản trở giao thông đường bộ gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khoẻ, tài sản nhưng chỉ bị coi là hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội, nên hành vi này cũng chỉ là hành vi phạm tội ít nghiêm trọng (khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự).

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội là tiêu chí cơ bản để xác định tội phạm ít nghiêm trọng, nhưng nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí này thì cũng chưa thể xác định tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng, mà phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy. Mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm ít nghiêm trọng là đến ba năm tù. Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là đến ba năm tù không có nghĩa là tội phạm đó có mức cao nhất của khung hình phạt nhất thiết phải là ba năm tù mà có thể dưới ba năm tù, thậm chí không có hình phạt tù. Ví dụ: Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là một năm tù; tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác quy định tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là cải tạo không giam giữ đến một năm... Các tội phạm này mức cao nhất của khung hình phạt không phải là ba năm tù, thậm chí không phải là hình phạt tù.

 

3. Tội phạm nghiêm trọng

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù.

Cũng tương tự như cách phân tích đối với tội phạm ít nghiêm trọng, căn cứ để xác định tội phạm nghiêm trọng trong Bộ luật hình sự phải căn cứ vào mức độ gây nguy hại cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó. Mức độ gây nguy hại cho xã hội trong tội phạm nghiêm trọng được xác định là lớn, nhưng lại không được lượng hóa cụ thể, nên việc đánh giá như thế nào là gây nguy hại lớn lại phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và cũng không chỉ căn cứ vào thiệt hại đã xảy ra. Ví dụ: Tội lây truyền HIV cho người khác quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự được xác định là gây nguy hại lớn cho xã hội khi hành vi lây truyền HIV cho nhiều người; lây truyền HIV cho người chưa thành niên; lây truyền HIV cho thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình; lây truyền HIV cho người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Nhưng đôi với tội khác thì việc xác định gây nguy hại lớn cho xã hội lại phải căn cứ vào hành vi cụ thể mà người phạm tội thực hiện tội phạm đó. Ví dụ: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 2 Điều 137 Bộ luật hình sự được xác định là gây nguy hại lớn cho xã hội nếu người phạm tội hành hung người phát hiện, đuổi bắt để tẩu thoát; chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; người phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng. Như vậy, đại lượng để chỉ tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội chính là các dấu hiệu cấu thành tội phạm đó. Trong các dấu hiệu cấu thành tội phạm có dấu hiệu không cần phải mất nhiều công sức cũng có thể xác định được. Ví dụ: Dấu hiệụ chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai tràm triệu đồng, chỉ cần căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt là có thể xác định được. Nhưng có những dấu hiệu lại phải xem xét, đánh giá rồi mới có thể xác định được. Ví dụ: Dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng, đòi hỏi phải căn cứ vào nhiều yếu tố trong vụ án cụ thể mới có thể xác định hành vi phạm tội đã thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hay chưa.

Ngoài việc căn cứ vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm để xác định đại lượng gây nguy hại lớn cho xã hội, muốn xác định tội phạm đó có phải là tội phạm nghiêm trọng hay không, còn phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đôì với tội ấy mà điều luật của Bộ luật hình sự quy định là mấy năm tù. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự thì tội phạm nghiêm trọng là tội phạm...mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù. Đến bảy năm tù không có nghĩa nhất thiết phải là bảy năm mà có thể dưới bảy năm, nhưng phải từ trên ba năm đến bảy năm, nếu là ba năm thì lại là tội phạm ít nghiêm trọng rồi. Như vậy, có thể hiểu rằng mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nghiêm trọng là từ trên ba năm tù đến bảy năm tù. Ví dụ: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại khoản 2 Điều 96 Bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là năm năm tù; Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính quy định tại khoản 1 Điều 99 Bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là sáu năm tù... Tuy nhiên, đo kỹ thuật lập pháp và cách cấu tạo của từng khung hình phạt, nhà làm luật thường quy định mức cao nhất của khung hình phạt là một năm tù, hai năm tù, ba năm tù, năm năm tù, sáu năm tù, bảy năm tù, tám năm tù, mười năm tù, mười hai năm tù, mười lăm năm tù, hai mươi năm tù, nhưng không có điều luật nào quy định mức cao nhất của khung hình phạt là bôn năm tù, chín năm tù, mười một năm tù, mười ba năm tù, mười bôn năm tù, mười sáu năm tù... nên khi xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm nghiêm trọng chỉ cần xác định trên ba nắm đến bảy tù.

 

4. Tội phạm rất nghiêm trọng

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội ấy là đến mười lăm năm tù.

Việc xác định tội phạm rất nghiêm trọng cũng tương tự như xác định tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng. Tiêu chí để xác định tội phạm rất nghiêm trọng cũng trên cơ sở xác định hành vi phạm tội có gây nguy hại rất lớn cho xã hội hay không, còn tiêu chí thứ hai là mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy theo quy định tại khoản 3 Điều 8 là đến mười lăm năm tù.

Hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội được xác định bởi những dấu hiệu cấu thành tội phạm đó. Các dấu hiệu này có thể chỉ cần căn cứ vào quy định của điều luật là có thể xác định được hành vi đó gây nguy hại rất lớn cho xã hội rồi. Ví dụ: Hành vi cưỡng dâm trẻ em gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% được coi là hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội, nhưng nếu là hành vi có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% lại chưa phải là hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội, mà chỉ là hành vi gây nguy hại lớn cho xã hội. Tuy nhiên có những trường hợp việc xác định hành vi phạm tội có gây nguy hại rất lớn cho xã hội hay không cần phải đánh giá mới có thể xã định được. Ví dụ: Hành vi sản xuất hàng giả gây hậu quả rất nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội, nhưng thế nào là gây hậu quả rất lớn cho xã hội lại phải thông qua việc đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Mức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội phạm rất nghiêm trọng là đến mười lăm năm tù, nhưng không nhất thiết phải là mười lăm năm tù mà có thể dưới mười lăm năm tù nhưng không được bằng hoặc thấp hơn bảy năm tù, vì bảy năm tù là mức cao nhất của khung hình phạt của tội phạm nghiêm trọng. Như vậy, mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội rất nghiêm trọng có thể là tám năm tù, mười năm tù, mười hai năm tù... mười lăm năm tù. Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt chúng ta dễ nhận biết tội phạm nào là tội phạm rất nghiêm trọng. Ví dụ: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là mười năm tù và tại khoản 3 của Điều này có mức cao nhất của khung hình phạt là mười lăm năm tù. Do đó cả khoản 2 và khoản 3 Điều 155 Bộ luật hình sự đều là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

5. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Việc xác định tội phạm nào là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cũng tương tự như việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, tức là trước hết phải căn cứ vào hành vi phạm tội đó có gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội hay không. Căn cứ để xác định tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội cũng chính là dấu hiệu cấu thành tội phạm đó. Ví dụ: Hành vi hiếp dâm trẻ em gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, được coi là gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, nhưng nếu cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên chỉ bị coi là gây nguy hại rất lớn cho xã hội. Như vậy, việc xác định hành vi phạm tội nào gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội phải căn cứ vào dấu hiệu cấu thành cụ thể đối với tội phạm cụ thể. Tất nhiên, khi xác định còn phải kết hợp với mức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội ấy là bao nhiêu năm tù.

Mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên do kỹ thuật lập pháp, các khung hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự không có mức cao nhất của khung hình phạt là 16, 17, 18, 19 nàm tù mà chỉ có hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Vì vậy, cũng có thể hiểu rằng mức cao nhất của khung hình phạt đốì với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là đến hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt chúng ta dễ xác định được tội phạm nào là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ: Tội phản bội tể quốc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 79; tội giết người thuộc trường hợp quy định tại khoăn 1 Điều 93; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 194; tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 221.V.V...