1. Quy định về giao kết hợp đồng như thế nào?
Hợp đồng là sự thương lượng, thỏa thuận giữa người với nhau, hay giữa tổ chức với nhau, hay giữa tổ chức với cá nhân về một vấn đề nào đó. Mục đích của hợp đồng chính là xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể.
Hợp đồng là một cam kết giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân) để làm hoặc không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng thường gắn liền với dự án, trong đó một bên thỏa thuận với các bên khác thực hiện dự án hay một phần dự án cho mình. Và cũng giống như dự án, có dự án chính trị xã hội và dự án sản xuất kinh doanh, hợp đồng có thể là các thỏa ước dân sự về kinh tế (Hợp đồng kinh tế) hay xã hội.
Theo khái niệm về hợp đồng như vậy, có thể thấy rằng giao kết hợp đồng chính là việc các bên bày tỏ, thống nhất với nhau về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo nguyên tắc do pháp luật quy định.
Giao kết hợp đồng được bắt đầu bằng việc một bên đề nghị với bên kia giao kết hợp đồng và đồng thời, kèm theo các nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời. Trong trường hợp đó, người đề nghị không được thay đổi, mời người thứ ba trong thời hạn chờ đợi sự trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình.
Các loại hợp đồng phổ biến hiện nay như:
- Hợp đồng mua bán tài sản;
- Hợp đồng trao đổi tài sản;
- Hợp đồng tặng cho tài sản;
- Hợp đồng vay tài sản;
- Hợp đồng thuê tài sản;
- Hợp đồng thuê khoán tài sản;
- Hợp đồng mượn tài sản;
- Hợp đồng về quyền sử dụng đất;
- Hợp đồng hợp tác;
- Hợp đồng dịch vụ;
- Hợp đồng vận chuyển;
- Hợp đồng vận chuyển hành khách;
- Hợp đồng vận chuyển tài sản;
- Hợp đồng gia công;
- Hợp đồng gửi – giữ tài sản;
- Hợp đồng ủy quyền;
- Hợp đồng tư vấn và dịch vụ.
2. Nguyên tắc tiến hành giao kết hợp đồng hiện nay như thế nào?
Việc thực hiện giao kết hợp đồng sẽ được tiến hành dựa trên nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng
Nguyên tắc bình đẳng khẳng định vị trí ngang hàng của người lao động và người sử dụng lao động khi giao kết hợp đồng. Theo nguyên tắc này tức là không có sự phân biệt đối xử giữa bên người lao động và người sử dụng lao động. Hành vi tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể luôn bị coi là vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động
Nguyên tắc này nghiêng về việc bảo vệ người lao động trước người sử dụng lao động. Trong quan hệ lao động, người lao động thường ở vị thế “lép vế” vì họ tham gia quan hệ lao động bằng sức lao động và phụ thuộc vào người sử dụng lao động bởi tiền lương, việc làm. Vì vậy nguyên tắc này ra đời để tạo lập sự bình đẳng giữa hai bên. Tuy nhiên trên thực tế, không thể tránh khỏi việc khi tham gia hợp đồng lao động, các chủ thể không hoàn toàn bình đẳng với nhau. Vì vậy, ở nguyên tắc này sự bình đẳng nhấn mạnh ở khía cạnh pháp lý.
Thứ hai, nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận
Nguyên tắc tự do, tự nguyện trong giao kết hợp đồng lao động là sự cụ thể hóa nguyên tắc đảm bảo sự tự lựa chọn việc làm, nơi làm việc của công dân. Có nghĩa rằng khi tham gia hợp đồng lao động, các chủ thể hoàn toàn tự do về mặt ý chí trong việc tham gia giao kết về hợp đồng lao động, bất kể hành vi lừa gạt, cưỡng bức đều có thể làm cho hợp đồng bị vô hiệu.
Xuất phát từ năng lực chủ thể của quan hệ hợp đồng lao động nên nguyên tắc tự do, tự nguyện vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối. Các chủ thể hoàn toàn được tự do, tự nguyện tự mình giao kết hợp đồng lao động không phụ thuộc vào ý chí của người khác. Tuy nhiên đối với các chủ thể như người lao động dưới 15 tuổi khi giao kết hợp đồng lao động với một số công việc bao giờ cũng phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp.
Thứ ba, nguyên tắc không trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể
Đây là nguyên tắc chung không những đảm bảo cho quyền và lợi ích của các bên tham gia hợp đồng mà còn đảm bảo không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khác có liên quan và lợi ích chung của xã hội. Hợp đồng lao động phải tuân thủ nguyên tắc tự do thỏa thuận, tuy nhiên sự tự do thỏa thuận ở đây phải nằm trong khuôn khổ. Khuôn khổ đó chính là chuẩn mực về đạo đức, không trái với pháp luật và thỏa ước lao động tập thể.
3. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng là khi nào?
Khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, bên được đề nghị chấp nhận đề nghị đó và mong muốn giao kết hợp đồng thì phải trả lời trong quãng thời gian nhất định. Cụ thể, theo Điều 394 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng như sau:
- Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời. Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.
- Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
- Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời”
Căn cứ theo quy định đó, có thể hiểu thời hạn chấp nhận giao kết hợp đồng là khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định hoặc hai bên thỏa thuận để bên được đề nghị cân nhắc, trả lời trong thời gian đó. Việc xác định thời hạn trả lời có ý nghĩa quan trọng, vì trả lời chỉ có hiệu trong thời hạn nhất định, sau thời hạn đó việc trả lời chấp nhận không còn được xem là câu trả lời nữa, mà chuyển sang đề nghị mới, theo đó, bên đề nghị ban đầu sẽ trở thành bên được đề nghị, việc chấp nhận hay không phụ thuộc vào ý chí của bên đề nghị. Thời hạn trả lời được xác định theo hai cách:
- Một là: bên đề nghị ấn định. Đề nghị là ý chí của bên đề nghị, do đó, chỉ họ mới nhận biết rõ thời hạn trả lời trong bao lâu thì đảm bảo được lợi ích tối đa của cả hai bên. Hơn nữa, đề nghị giao kết hợp đồng được xây dựng dựa trên ý chí của chủ thể, chứ không là quy định bắt buộc của pháp luật, mà pháp luật chỉ điều chỉnh các vấn đề xoay quanh nó để đảm bảo các bên vừa được tự do tham gia vào các quan hệ dân sự, vừa đảm bảo trật tự xã hội. Chính vì lẽ đó, mà pháp luật đã trao cho các chủ thể quyền được tự mình ấn định thời hạn trả lời chấp nhận.
- Hai là: khoảng thời gian hợp lý do các bên thỏa thuận hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Quy định này nhằm dự phòng trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời chấp nhận. Vì trong thời hạn đợi bên được đề nghị trả lời, bên đề nghị không được giao kết hợp đồng với bên thứ ba. Nếu bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời, mà pháp luật không quy định gì thêm thì thời hạn trả lời sẽ tồn tại mãi mãi, như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng của bên đề nghị với bên thứ ba. Không có quy định nào ghi nhận “thời hạn hợp lý” là như thế nào? Vì không phải hợp đồng nào cũng như nhau, tùy thuộc vào từng hợp đồng cụ thể mà thời hạn có sự khác biệt.
Ngoài ra, quý khách hàng có thể tham khảo thêm nội dung bài viết sau của Luật Minh Khuê: Hủy bỏ, thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện như thế nào ?, Giao kết hợp đồng là gì? Nguyên tắc, hình thức giao kết hợp đồng?
Trên đây là những thông tin hữu ích Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm bài viết để hiểu rõ hơn. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc nào hay đang gặp phải vấn đề pháp lý nào cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ kịp thời. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách