- 1. Nguyên tắc bình đẳng
- 2. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận
- 3. Nguyên tắc thiện chí trung thực
- 4. Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
- 5. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự
- 6. Ý nghĩa và vai trò của các nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2015
- Kết luận
Luật Dân sự năm 2015 ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân. Một trong những điểm nổi bật, thể hiện tinh thần bao quát và tiến bộ của Bộ luật này, chính là việc quy định rõ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự – là kim chỉ nam cho việc xây dựng, áp dụng và giải thích các quy phạm pháp luật, đồng thời là cơ sở để Tòa án và cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự một cách công bằng, hợp lý và thống nhất. Tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) quy định 05 nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự. Cụ thể:
1. Nguyên tắc bình đẳng
Đây là một nguyên tắc hiến định và được ghi nhận cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015: ""Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản".
Sự bình đẳng giữa các chủ thể, mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, nghĩa là, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau, mọi pháp nhân đều có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình. Nguyên tắc này được áp dụng đối với mọi chủ thể của quan hệ dân sự, kể cả giữa cơ quan nhà nước với các cá nhân trong quan hệ dân sự.
Sự ngang bằng về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp của các chủ thể. Các chủ thể không được lấy lý do khác biệt về các yếu tố này để đối xử bất bình đẳng với nhau. Không một chủ thể nào có đặc quyền, đặc lợi so với các chủ thể khác trong quan hệ dân sự. Pháp luật nghiêm cấm các hành vi mang tính quyền lực của một bên đối với bên kia trong giao dịch dân sự.
Sự bảo hộ của pháp luật, mọi cá nhân và pháp nhân đều được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và quyền về tài sản.
Nền tảng cho sự bình đẳng này được lấy từ gốc Hiến pháp - luật gốc cho mọi luật tại Việt Nam. Tại Hiến pháp năm 2013, các quyền tự do, bình đắng về nhân thân và tài sản đều được ghi nhận, khẳng định và coi đó là quyền cơ bản của công dân.
Bình đẳng chỉ được đặt ra khi xây dựng pháp luật nên được coi là một “khái niệm chính trị - pháp lý”. Theo đó, bản chất bình đẳng trong quan hệ dân sự phải là sự ngang nhau về “quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm trong xác lập, thực hiện quan hệ dân sự”. Với nguyên tắc này nhấn mạnh các nội dung:
Bình đẳng không có nghĩa là cào bằng, ngang bằng. Trong một số trường hợp, do ý nghĩa xã hội của vấn đề mà BLDS quy định những lợi thế, những ưu tiên nhất định cho đối tượng tham gia quan hệ dân sự. Ví dụ: Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó - khoản 2 Điều 405 BLDS 2015.
Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng của pháp luật dân sự. Đây là một nguyên tắc cơ bản áp dụng trong các quan hệ pháp luật dân sự nói chung và trong từng chế định, quy phạm của pháp luật dân sự. Đây cũng là nguyên tắc tiền đề để được cụ thể hóa trong các luật chuyên ngành như: Nhà nước bảo đảm quyền bình đẳng của các doanh nghiệp trước pháp luật không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.
2. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận
Các bên tham gia quan hệ dân sự có quyền tự do cam kết, thoả thuận phù hợp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự (khoản 2, Điều 3 Bộ luật dân sự 2015). Mọi cam kết và thoả thuận hợp pháp được pháp luật bảo hộ.
“Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận. Mọi cam kết, thoả thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”
Đây là nguyên tắc nền tẳng quan trọng nhất của luật dân sự. Thể hiện sự tự do ý chí và tự định đoạt. Chủ thể được quyền quyết định tham gia hay không tham gia, chọn đối tác, chọn nội dung và hình thức giao dịch. Quyền dân sự được thực hiện trên cơ sở ý chí tự do, không bị cưỡng ép hay lừa dối.
Khi cam kết, thoả thuận, các bên hoàn toàn tự nguyện, không được ai dùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thoả thuận trái với ý chí của người đó. Mọi cam kết, thoả thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể bị tuyên bố là vô hiệu. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
Để đảm bảo an toàn pháp lý và tạo môi trường lành mạnh và ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các chủ thể được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Nguyên tắc này còn ghi nhận mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
Nghĩa là, sự tự do, cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội của các bên trong các giao dịch dân sự có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên, trong trường hợp các bên có thỏa thuận thì phải tuân theo, chỉ khi các bên không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được với nhau thì tuân theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, sự tự do cam kết, thỏa thuận của các bên còn được pháp luật bảo hộ, nghĩa là những cam kết, thỏa thuận đó phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.
Trường hợp có vi phạm nguyên tắc này, thì giao dịch dân sự mà các bên tham gia sẽ bị coi là vô hiệu, song sự vô hiệu đó chỉ là tương đối, nghĩa là hiệu lực giao dịch đó phụ thuộc vào sự lựa chọn và tự do ý chí của các bên có thể thay đổi cam kết, thỏa thuận đó hay không.
3. Nguyên tắc thiện chí trung thực
Khoản 3 Điều 3 BLDS 2015 ghi nhận về nguyên tắc này: "Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực"
Trong quan hệ dân sự, các bên phải hợp tác, giúp đỡ nhau để tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự. Mỗi bên không chỉ quan tâm đến quyền và lợi ích của mình mà còn phải quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, của Nhà nước và xã hội. Ngoài ra đòi hỏi các bên phải tìm mọi biện pháp cần thiết để khắc phục và hạn chế thiệt hại. Tuy nhiên, trong quan hệ dân sự các bên được suy đoán là trung thực, thiện chí. Nêu một bên cho rằng bên kia không trung thực, thiện chí phải có chứng cứ
Thiện chí được hiểu là sự thân thiện, mong muốn được thực hiện hoàn thành, thực hiện hoàn toàn tự nguyện. Trung thực được hiểu là tôn trọng khách quan, tôn trọng những điều thực tế, không tạo dựng các thông tin hoặc các yếu tố gây bất lợi trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự, sẽ có nhiều quan hệ mà nghĩa vụ của người này tương ứng với quyền của người khác, thế nên, chỉ cần bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, đúng thì sẽ đảm bảo lợi ích cho bên có quyền. Chính vì thế, quá trình thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, chỉ cần mỗi chủ thể luôn nỗ lực thực hiện tốt nhất bằng hành vi của mình để đem lại lợi ích tối đa cho bên mang quyền đã tạo nên sự lý tưởng trong quan hệ dân sự.
Nguyên tắc thiện chí, trung thực không phải là một nguyên tắc mới mà được ghi nhận trong pháp luật dân sự từ lâu. Nguyên tắc này hoàn toàn tương thích với nguyên tắc bình đẳng của các chủ thể bởi khi các chủ thể có địa vị pháp lý ngang nhau thì đương nhiên, sự thiện chí, trung thực của mỗi chủ thể sẽ góp phần tạo nên hiệu quả trong việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên.
4. Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Khoản 4 Điều 3 BLDS 2015 quy định nguyên tắc cơ bản nhất của luật Việt Nam là quyền và nghĩa vụ dân sự phải được xác lập, thực hiện trong mối tương quan hài hòa, hợp lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam cũng như hầu hết các luật dân sự trên thế giới, nguyên tắc này không chỉ được quy định tại khoản 4 Điều 3 BLDS 2015 mà còn được cụ thể hóa ở các phần khác của Bộ luật dân sự. Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa của việc giới hạn quyền dân sự cá nhân nhằm đảm bảo trật tự chung. Quyền tự do thỏa thuận (nguyên tắc 2) phải dừng lại trước lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng và quyền lợi của bên thứ ba.
Việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự nhằm thoả mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó. Tuy nhiên, việc thực hiện các hành vi dân sự không thể tiến hành tuỳ tiện mà phải thực hiện trong một khuôn khổ, giới hạn nhất định. Quyền của một chủ thể bị giới hạn bởi quyền của các chủ thể khác, lợi ích của quốc gia, lợi ích công cộng. Khi các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình mà gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các chủ thể bị hại đó cũng tương tự nếu một giao dịch dân sự, dù các bên thỏa thuận nhưng gây hại đến lợi ích công cộng thì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu.
5. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lí nhưng trước tiên là trách nhiệm của người vi phạm đối với người bị vi phạm. Người có nghĩa vụ phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của họ nếu các quyền và nghĩa vụ đó phát sinh từ các căn cứ hợp pháp. Neu không thực hiện phải tự chịu trách nhiệm và có thể bị cưỡng chế thi hành nghĩa vụ và phải bồi thường thiệt hại (nếu có). Mỗi chủ thể tham gia phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình như khoản 5 Điều 3 BLDS 2015 đã quy định: "Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự".
Khi thực hiện các quyền của mình, về cơ bản các chủ thể ý thức được việc phải thực hiện nghiêm túc, đúng phần nghĩa vụ của mình vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ thể có thể do lỗi vô ý hoặc cố ý dẫn đến không thực hiện đúng hoặc không thực hiện được các nghĩa vụ của mình dẫn đến những hệ quả nhất định mang tính bất lợi. Vì quan hệ dân sự là quan hệ của sự bình đẳng về địa vị pháp lý, của sự tự do, tự nguyện nên đương nhiên, khi gây thiệt hại cho người khác, khi làm cho người khác bị ảnh hưởng không tích cực bởi hành vi của mình, chủ thể trong quan hệ dân sự phải chịu trách nhiệm. Như vậy, trách nhiệm dân sự được hiểu là dạng trách nhiệm pháp lý mang tính bất lợi cho một chủ thể sau khi chủ thể đó thực hiện nghĩa vụ của mình không đúng hoặc không thực hiện.
Khi quy định nguyên tắc tự chịu trách nhiệm thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước về việc, khi quan tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, những lợi ích hợp pháp thì các chủ thể được hưởng nhưng những hậu quả bất lợi do hành vi không hợp pháp của mình gây ra thì chủ thể vẫn phải tự chịu trách nhiệm.
6. Ý nghĩa và vai trò của các nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2015
Các nguyên tắc cơ bản không chỉ là lời mở đầu mang tính tuyên ngôn mà còn giữ vai trò nên tảng, hệ thống trong toàn bộ cấu trúc và quá trình áp dụng pháp luật dân sự. Các nguyên tắc tại Điều 3 BLDS 2015 là tinh thần cốt lõi, là khuôn mẫu và là kim chỉ nam cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự và các quy định cụ thể khác của Bộ luật. Bất kỳ quy định mới nào của pháp luật dân sự được ban hành đều phải đảm bảo tính tương thích, không được trái với các nguyên tắc này.
Đối với việc giải thích và áp dụng pháp luật, trong các tình huống phức tạp hoặc khi các điều luật cụ thể không quy định rõ ràng, các nguyên tắc tại Điều 3 cung cấp căn cứ để cơ quan có thẩm quyền (Tòa án, trọng tài) giải thích và áp dụng pháp luật một cách hợp lý và công bằng. Ngoài ra các nguyên tắc cơ bản này còn xác định ranh giới giữa việc thực hiện quyền dân sự một cách hợp pháp và việc lạm dụng quyền (quy định tại Điều 10 BLDS 2015)
Kết luận
Các nguyên tắc cơ bản của Luật Dân sự năm 2015 không chỉ mang ý nghĩa pháp lý thuần túy, mà còn phản ánh tư duy lập pháp tiến bộ và nhân văn của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể trong xã hội. Từ nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể, tự do, tự nguyện cam kết và thỏa thuận, đến thiện chí, trung thực, tôn trọng đạo đức xã hội và tuân thủ pháp luật – tất cả đều tạo nên một hệ giá trị cốt lõi, định hướng cho toàn bộ hoạt động dân sự.
Trong thực tiễn, việc quán triệt và áp dụng đúng đắn các nguyên tắc này không chỉ giúp giải quyết tranh chấp một cách công bằng, minh bạch, mà còn góp phần xây dựng môi trường pháp lý ổn định, thúc đẩy giao lưu dân sự – thương mại, phát triển kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh đời sống dân sự ngày càng phức tạp với nhiều quan hệ mới phát sinh, việc vận dụng các nguyên tắc này đòi hỏi sự linh hoạt, nhạy bén và thống nhất từ phía cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có thể nói, chính việc nhận thức sâu sắc và áp dụng đúng các nguyên tắc cơ bản của Luật Dân sự 2015 sẽ là chìa khóa quan trọng để pháp luật dân sự Việt Nam phát huy vai trò là nền tảng của hệ thống pháp luật quốc gia, hướng tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, công bằng, dân chủ và văn minh.
Nếu quý khách có bất kỳ thắc mắc hoặc vấn đề nào liên quan đến nội dung của bài viết hoặc các quy định pháp luật, chúng tôi xin trân trọng đề nghị quý khách liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.6162hoặc gửi email tới địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẽ cung cấp sự hỗ trợ và giải quyết một cách nhanh chóng và tốt nhất.