Khi thời hạn đó kết thúc, đương sự sẽ mất quyền khởi kiện và chỉ được khôi phục lại nếu li do bỏ qua thời hiệu được toà án công nhận là chính đáng, như do ốm đau nặng kéo dài, do nguyên nhân bất khả kháng...

Việc quy định về thời hiệu khởi kiện vừa có ý L nghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm, vừa đòi hỏi các chủ thể này phải biết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong một thời gian nhất định, không để tranh chấp kéo dài.

Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm hại.

1. Khái niệm thời hạn, thời hiệu?

Tiêu chí phân biệt Thời hạn Thời hiệu

Định nghĩa

Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.

Cách tính

– Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.

– Được tính theo dương lịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Năm

Điểm bắt đầu

– Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.

– Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.

– Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.

Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu

Điểm kết thúc

– Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn.

– Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn.

– Khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn; nếu tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó.

– Khi thời hạn tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn.

– Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.

– Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.

Thời hiệu chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.

Phân loại

– Dựa vào cơ sở hình thành thời hạn

+ Thời hạn luật định:

Là thời hạn do pháp luật quy định, các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự bắt buộc phải tuân theo thời hạn đó mà không được phép thay đổi thời hạn

+ Thời hạn ấn định:

Là thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định thông qua một quyết định hoặc một bản án

+ Thời hạn thỏa thuận:

Là thời hạn các bên có thể tự thỏa thuận với nhau khi tham gia các giao dịch dân sự

– Dựa vào tính xác định của thời hạn:

+ Thời hạn xác định:

Là thời điểm được chỉ ra thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của thời hạn

+ Thời hạn không xác định:

Là thời hạn mà trong đó khoảng thời gian chỉ mang tính ước lượng

– Thời hiệu hưởng quyền dân sự:

Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng một quyền dân sự

– Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự:

Là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì chủ thể có nghĩa vụ dân sự được miễn trừ việc thực hiện nghĩa vụ đó

– Thời hiệu khởi kiện:

Là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nếu như hết thời hiệu đó thì bị mất quyền khởi kiện.

– Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu.

Trong giao lưu dân sự chủ thể tham gia quan hệ dân sự được hường các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự.
Sự ổn định các quan hệ dân sự là một trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự. Mặt khác, đối tượng của giao lưu dân sự chủ yếu là tài sản để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, cho nên tài sản luôn có sự biến đổi về hình thức và tính năng, tác dụng. Do vậy cùng với sự thay đổi về thời gian thì tài sản có thể không còn tồn tại.
Khi có hành vi vi phạm đến quyền tài sản của mình, người khởi kiện phải chứng minh nguồn gốc tài sản, loại tài sản, hình thức của tài sản… Tuy nhiên, với thời gian càng lâu thì việc chứng minh càng gặp khó khăn và nhiều trường hợp không thể chứng minh được.
Do vậy pháp luật quy định một thời hạn nhất đinh cho sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự, thời hạn này được gọi là thời hiệu. Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện (Điều 150 BLDS).
Như vậy, Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.

2. Quy định về thời hiệu khởi kiện

Để xã hội phát triển thì phải ổn định được các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Những tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực này phải được giải quyết kịp thời, nếu để lâu, mâu thuẫn phát triển, việc giải quyết sẽ khó khăn hơn. Vì vậy, ngoài việc quy định thời hạn tố tụng, pháp luật còn quy định cả thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khỏi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu.

Việc pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu cũng có ý nghĩa rất lớn như thời hạn tố tụng. Trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thời hiệu xác định rõ thời hạn chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phậm có quyền yêu cầu toà án bảo vệ, bảo đảm cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận tiện, đúng đắn. Đối với kinh tế - xã hội, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu còn hạn chế được việc lạm dụng quyền khởi kiện, yêu cầu toà án bảo vệ góp phần ổn định các quan hệ xã hội, bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát triển lành mạnh.

Hiện nay, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu toà án giải quyết đối với vụ việc dân sự được quy định tại các điều 154, 155, 156 và 157 Bộ luật dân sự, các điều 184 và 185 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ngoài ra, còn được quy định tại Điều 167 Bộ luật lao động, Điều 319 Luật thương mại, Điều 30 Luật kinh doanh bảo hiểm, Điều 97 Luật hàng hải ... Theo đó, đối với mỗi vụ việc dân sự nói chung, pháp luật đều quy định thời hiệu khởi kiện, thòi hiệu yêu cầú. Việc pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu toà án giải quyết các vụ việc dân sự trong các trường họp cụ thể dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi loại quan hệ pháp luật ttanh chấp, toà án phải giải quyết trong vụ án dân sự hay loại việc dân sự được toà án giải quyết. Tuy nhiên, do yêu cầu của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể trong một số loại vụ việc, Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong những trường họp sau:

- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản;

- Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan quy định khác;

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai;

- Trường hợp khác do luật quy định. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 154 Bộ luật dân sự năm 2015). Tuy vậy, trong một số trường hợp cụ thể, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự có thể được tính bắt đầu từ một sự kiện pháp lí khác như thời hiệu khởi kiện yêu cầu toà án tuyên bố một số giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, cưỡng ép tính từ ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; (Điều 132 BLĐS năm 2015), thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được tính từ thời điểm mở thừa kế (Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015) ...

3. Quy định về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 154 Bộ luật dân sự năm 2015). Ngày phát sinh quyền yêu cầu là ngày người có quyền yêu cầu được yêu cầu toà án giải quyết việc dân Sự. Tuỳ từng loại việc mà pháp luật quy định thời điểm đương Sự được yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự khác nhau như thời điểm phát sinh quyền yêu cầu toà án công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài là thời điểm bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài có hiệu lực thi hành (Điều 432 và Điều 444 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015); thời điểm phát sinh quyền yêu cầu tởà án xem xét lại quyết định của trọng tài là ngày nhận được quyết định của hội đồng trọng tài (Điều 69 LTTTM) ...

Trên thực tể, do những nguyên nhân khác nhau mà việc khởi kiện, yêu cầu có thể không thực hiện được trong thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu. Để bảo đảm quyền yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật quy định đối với các trường hợp thời gian bị gián đoạn do xảy ra sự kiện bất khả kháng; khách quan; người có quyền khởi kiện, có quyền yêu cầu chưa thành niên, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện; người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết nhưng chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lí do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được thì không tính vào thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu (Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015).

Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu cũng có thể được bắt đầu lại khi xảy ra những sự kiện pháp lí nhất định. Khi thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được bắt đầu lại thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được tính lại từ đầu, thời gian trước khi xảy ra sự kiện không được tính vào thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu nữa. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được bắt đầu lại trong trường hợp bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; các bên đã tự hoà giải với nhau (Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015). Trong các trường hợp thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được bắt đầu lại thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu tính kể từ ngày tiếp theo ngày xảy ra sự kiện.

4. Ý nghĩa của thời hiệu

Thời hiệu đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định các quan hệ dân sự. Nếu không quy định thời hiệu, mỗi chủ thể tham gia vào quan hộ dân sự luôn bị đe dọa bởi tranh chấp có thể xảy ra, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và đời sống của họ. Hơn nữa các căn cứ phát sinh quan hệ dân sự do thời gian làm cho quá trình chứng minh phức tạp. Khi giải quyết các tranh chấp dân sự, Toà án cần phải tiến hành điều tra thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan nên nếu thời gian đã qua đi quá lâu, quá trình thu thập chứng cứ khó bảo đảm chính xác.

5. Những trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:
Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
Trường hợp khác do luật quy định.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê