1. Quy định chung về thời hiệu thi hành bản án

Thời hiệu thi hành bản án, quyết định hình sự của toà án là thời hạn do luật định mà trong thời hạn đó mới có thể buộc người bị kết án phải chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật. Sau thời hạn đó, người bị kết án chưa chấp hành bản án sẽ không bị buộc phải chấp hành bản án nữa, nếu trong thời hạn đó:

1) Người bị kết án không bị xử phạt tù về tội phạm mới;

2) Người bị kết án không cố tình trốn tránh việc thi hành án cũng như không bị truy nã,

Thời hiệu được tính lại kể từ ngày người bị kết án phạm tội mới hoặc ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Theo quy định của pháp luật hình sự không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án nếu tính từ ngày bản án đã có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn sau:

1) Năm năm đối với các truờng hợp bị xử phạt từ 5 năm tù trở xuống;

2) Mười năm đối với các trường hợp bị xử phạt từ trên 5 năm tù đến 15 năm tù;

3) Mười lăm năm đối với các trường hợp bị xử phạt từ trên 15 năm đến 20 năm.

Nếu trong thời hạn nói trên, người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính. Đối với các bản án, quyết định dân sự, trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành bản án, quyết định đó. Trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định của toà án thì thời hạn 3 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kì thì thời hạn 3 năm được áp dụng cho từng định kì, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Trong trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà họ không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

2. Thời hiệu thi hành bản án là gì ?

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất về thủ tục thi hành án tử hình ?

Chế định thời hiệu thi hành bản án hình sự xuất phát từ yêu cầu đề cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án đảm bảo cho mọi bản án có hiệu lực phải được thi hành, đồng thời chế định này cũng thể hiện quan điểm nhân đạo, nhất quán với mục đích của việc thi hành bản án hình sự.

về nguyên tấc, bản án hình sự phải được thi hành ngay khi bản án đó có hiệu lực pháp luật nhằm mục đích trừng trị, giảo dục các đối tượng bị kết án, ngăn ngừa phạm tội mới. Trong thực tiễn, một số bản án có hiệu lực pháp luật đã không được thi hành vì những lí do nhất định như bị thất lạc, bị bỏ quên... Qua một khoảng thời gian nhất định, các đối tượng bị kết án tuy không bị buộc phải chấp hành bản án đã tuyên nhưng đã tự giáo dục, cải tạo, tuân thủ các quy tắc của cuộc sống xã hội, không phạm tội mới. Trong các trường họp này, việc buộc các đối tượng bị kết án phải chấp hành bản án đã tuyên được coi là không còn cần thiết và không còn ý nghĩa nên được Bộ luật hình sự coi là đã hết thời hiệu thi hành bản án.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.

Thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là thời hiệu thi hành bản án hình sự về quyết định hình phạt. Đổi với các quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản thì việc xác định thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự là giới hạn thời gian của việc thi hành bản án, là thời hạn để có thể buộc các đối tượng bị kết án phải chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật. Thời hạn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào đối tượng bị kết án và loại, mức hình phạt đã tuyên. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

* Đối với người bị kết án, thời hiệu thi hành bản án hình sự là:

- 5 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 03 năm trở xuống;

- 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm;

- 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên 15 năm đến 30 năm.

- 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình.

>> Xem thêm:  Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài và phán quyết của trọng tài nước ngoài

Sau thời hạn trên, người bị kết án sẽ không bị buộc phải chấp hành bản án nếu trong thời hạn luật định người đó không phạm tội mới và không cố tình trốn tránh việc thi hành án cũng như không bị truy nã. Neu không thoả mãn các điều kiện này thì thời hiệu thi hành bản án được tính lại kể từ ngày người đó thực hiện hành vi phạm tội mới (khoản 4 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) hoặc ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ (khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Cố tình trốn tránh là cố tình giấu địa chỉ, ẩn náu, trốn ra nước ngoài, thay đổi họ tên, hình dạng... làm cho các cơ quan có trách nhiệm không biết họ ở đâu hoặc không phát hiện được.

Trường hợp trong bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều tội thì cãn cứ mức hình phạt để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự là hình phạt chung.

* Đối với pháp nhân thương mại bị kết án, trong mọi trường hợp, thời hiệu để thi hành bản án hình sự được xác định là 5 năm. Trong thời hạn trên, nếu pháp nhân thương mại bị kết án lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì thời hiệu được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Về quy định không áp dụng thời hiệu thi hành bản án (Điều 61 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017):

Do tính chất đặc biệt nguy hiểm của các tội trong lĩnh vực xâm phạm an ninh quốc gia, đồng thời để phù hợp với pháp luật quốc tế, luật hình sự Việt Nam quy định không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và đối với các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh được quy định tại các chương XIII và XXVI BLHS. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017quy định không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các trường họp phạm tội được quy đinh tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353, khoản 3 và khoản 4 Điều 354 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đây là các trường hợp phạm tội có tính chất đặc biệt nguy hiểm, gây dư luận xấu trong xã hội và thuộc các trường hợp cần xử lí đặc biệt nghiêm khắc.

3. Quyết định thi hành án phạt tù

Điều 22, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định về quyết định thi hành án phạt tù như sau:

Quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; thời hạn chấp hành án phạt tù, thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung. Trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây: (a) Người chấp hành án và người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi; (b) Viện kiểm sát cùng cấp; (c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; (d) Trại tạm giam nơi người chấp hành án đang bị tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ hoặc đang tại ngoại; (đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở; (e) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người chấp hành án là người nước ngoài.
Đối với việc thi hành quyết định thi hành án phạt tù Điều 23 Luật này quy định:
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Trường hợp người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam cấp quân khu thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trường hợp người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.
Trong thời gian chờ chuyển đến nơi chấp hành án phạt tù, người chấp hành án được hưởng chế độ như đối với phạm nhân.
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án; quá thời hạn này mà người đó không có mặt, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt; trường hợp người đó có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện trưng cầu giám định; trường hợp kết quả giám định xác định người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại chết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu báo cáo Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định đình chỉ thi hành án.

4. Thẩm quyền ra quyết định bản án hình phạt tù

Thẩm quyền ra quyết định thi hành án hình sự sơ thẩm được quy định tại Khoản 1 Điều 364 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Theo đó:

Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án.

Theo đó, thời hạn ra quyết định thi hành án là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thi hành án.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã.

5. Các trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù

Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù

1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

a) Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;

b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

d) Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, chỉ có 4 trường hợp nêu trên mới được hoãn hình phạt tù. Đây là những trường hợp đặc biệt, xét thấy cần thiết phải hoãn phạt tù:

- Người bị bệnh nặng: là người có sức khỏe yếu, bị bệnh dẫn đến không đủ sức khỏe để trực tiếp thi hành án phạt tù ngay khi bản án có hiệu lực. Tình trạng bệnh phải được xác nhận của cơ sở ý tế có thẩm quyền hoặc pháp y tiến hành giám định và xác nhận.

- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi: Quy định này là để hỗ trợ cho những đứa trẻ còn quá nhỏ. Đối với phụ nữ mang thai thì được hoãn để sinh con và nuôi con đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Con ở đây là con đẻ hoặc con nuôi hợp pháp.

- Là lao động duy nhất trong nhà: Được hiểu là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật. Có sức khỏe để lao động, nuôi dưỡng những người trong gia đình. Những thành viên khác trong gia đình không thể tự lao động nuôi dưỡng bản thân mà phải phụ thuộc vào người bị kết án…phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người phải chấp hành án cư trú.

- Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ: Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng là những tội phạm mà khung hình phạt cho hành vi phạm tội không quá 03 năm tù. Do nhu cầu công vụ mà phạm tội thì cũng sẽ được hoãn đến 01 năm. Phải có xác nhận của cơ quan nơi thực hiện công vụ.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, thi hành bán án, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

>> Xem thêm:  Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời hiệu thi hành án hình sự là gì?

Trả lời:

Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.

 

Câu hỏi: Được hoãn chấp hành hình phạt tù trong bao lâu?

Trả lời:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 ta có thể thấy, thời hạn hoãn được quy định như sau:

- Cho đến khi sức khỏe hồi phục đối với người bị bệnh nặng.

- Con đủ 36 tháng tuổi đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

- 01 năm đối với người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt  trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- 01 năm đối với người bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng do như cầu công vụ

Câu hỏi: Cơ quan nào ra quyết định hoãn thi hành án?

Trả lời:

Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoãn đó là Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định thi hành án.