1.Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế:

a) Đối với vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thì thời hiệu xử phạt là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm;

b) Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu không đúng hoặc số tiền thuế trốn, số tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính về quản lý thuế.

2. Thời hiệu xử phạt đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực hải quan thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì thời hiệu được áp dụng theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều này.

Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

4. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

2. Hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả

1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, tổ chức, cá nhân bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.

2. Cảnh cáo áp dụng đối với cá nhân từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này.

3. Mức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức:

a) Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt tiền đối với tổ chức, mức phạt tiền đối với cá nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức, trừ trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản này;

b) Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 10 Nghị định này là mức phạt tiền đối với cá nhân;

c) Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về quản lý thuế quy định tại các Điều 9, 14 Nghị định này là mức phạt tiền được áp dụng đối với cả cá nhân và tổ chức;

d) Hộ kinh doanh, hộ gia đình thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị xử phạt vi phạm như đối với cá nhân.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật vi phạm hành chính.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả.

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc buộc tái xuất đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc buộc tái xuất tại cửa khẩu nhập đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

c) Buộc thực hiện việc vận chuyển hàng hóa quá cảnh, chuyển cảng, chuyển khẩu, chuyển cửa khẩu, hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất đúng cửa khẩu, tuyến đường quy định;

d) Buộc loại bỏ bao bì, nhãn hàng hóa đã thay đổi do hành vi vi phạm; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn hàng hóa trước khi đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;

e) Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;

g) Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn, số tiền thuế thiếu;

h) Buộc nộp đủ số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn, không thu không đúng;

i) Buộc dán tem “Vietnam duty not paid” theo quy định.

3.  Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

1. Các trường hợp không xử phạt theo quy định tại Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Hàng hóa, phương tiện vận tải được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do sự kiện bất ngờ, sự kiện bất khả kháng thì phải thông báo với cơ quan hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; hàng hóa, phương tiện vận tải đó phải được đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi các yếu tố nêu trên được khắc phục.

2. Các trường hợp được khai bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Luật Hải quan năm 2014 không bị xử phạt vi phạm hành chính.

3. Các trường hợp người khai hải quan thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế theo quy định tại khoản 11 Điều 16 Luật Quản lý thuế.

4. Trường hợp hàng hoá gửi vào Việt Nam không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại Điều 39 Luật Thương mại năm 2005 (trừ hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hàng giả, phế liệu không thuộc Danh mục được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất) nhưng đã được người gửi hàng, người vận tải, người nhận hàng hoặc người đại diện hợp pháp của người gửi hàng, người vận tải, người nhận hàng thông báo bằng văn bản (nêu rõ lý do) kèm theo các chứng từ liên quan tới Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi lưu giữ hàng hóa khi chưa đăng ký tờ khai hải quan.

4. Hoạt động điều tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan

1. Trách nhiệm chủ trì điều tra và xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan

1.1. Cục Điều tra chống buôn lậu chủ trì:

a) Kế hoạch đấu tranh, chuyên án do Cục phát hiện, xác lập.

b) Kế hoạch đấu tranh, chuyên án, thực hiện theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan.

c) Kế hoạch đấu tranh, chuyên án có tính chất phức tạp (trị giá hàng hóa vi phạm lớn, đối tượng vi phạm hoạt động có tổ chức, tính chất chuyên nghiệp, có dấu hiệu móc nối nội bộ hải quan, liên quan tới nhiều Cục Hải quan tỉnh, thành phố).

d) Kế hoạch đấu tranh, chuyên án do Cục Hải quan tỉnh, thành phố phát hiện, đấu tranh, nhưng do yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, lãnh đạo Tổng cục Hải quan chỉ đạo bàn giao cho Cục Điều tra chống buôn lậu trực tiếp thụ lý điều tra.

đ) Kế hoạch đấu tranh, chuyên án do Cục Hải quan tỉnh, thành phố, cơ quan chức năng khác bàn giao.

1.2. Cục Hải quan tỉnh, thành phố chủ trì:

a) Xác lập chuyên án, kế hoạch đấu tranh đối với vi phạm xảy ra tại địa bàn quản lý của Cục Hải quan tỉnh, thành phố, do Cục phát hiện.

b) Kế hoạch đấu tranh, chuyên án thực hiện theo chỉ đạo của lãnh đạo Tổng cục Hải quan.

c) Kế hoạch đấu tranh, chuyên án do Cục Điều tra chống buôn lậu, cơ quan chức năng khác bàn giao.

1.3. Chi cục Hải quan cửa khẩu chủ trì:

a) Đấu tranh đối với hành vi phạm tội quả tang, vi phạm xảy ra tại địa bàn quản lý của Chi cục, do Chi cục phát hiện.

b) Vụ việc do Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Hải quan tỉnh, thành phố chỉ đạo thực hiện hoặc Đội Kiểm soát chống buôn lậu bàn giao.

2. Bàn giao vụ việc, chuyên án giữa các đơn vị hải quan.

2.1. Khi phát hiện vụ việc vi phạm không thuộc trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều này thì bàn giao vụ việc cho đơn vị có trách nhiệm chủ trì.

2.2. Việc bàn giao thông tin, hồ sơ, đối tượng, phương tiện, tang vật (nếu có) của vụ việc, chuyên án phải đúng trình tự, thủ tục quy định. Chỉ bàn giao vụ việc khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của lãnh đạo Tổng cục Hải quan, lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Cục Điều tra chống buôn lậu.

2.3. Đơn vị tiếp nhận vụ việc, phải thông báo bằng văn bản cho đơn vị bàn giao biết kết quả điều tra, xử lý chậm nhất sau 15 ngày làm việc kể từ khi kết thúc vụ việc.

3. Phối hợp đấu tranh ngăn chặn, bắt giữ và điều tra, xử lý

3.1. Các đơn vị trong Ngành, khi nhận được yêu cầu huy động, phối hợp của các đơn vị kiểm soát hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Cục Điều tra chống buôn lậu để đấu tranh ngăn chặn, bắt giữ và điều tra, xử lý vi phạm phải có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện, trang thiết bị theo yêu cầu; nếu gặp khó khăn phải thông báo kịp thời bằng văn bản cho đơn vị chủ trì.

Đơn vị kiểm soát hải quan cấp dưới có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu nghiệp vụ thu thập thông tin, trinh sát, điều tra, khám xét, bắt giữ, … theo đúng quy định và theo chỉ đạo, yêu cầu của đơn vị kiểm soát cấp trên.

3.2. Đơn vị chủ trì vụ việc có trách nhiệm gửi yêu cầu phối hợp bằng văn bản (do lãnh đạo Cục, lãnh đạo các đơn vị kiểm soát hải quan thuộc Cục ký). Nội dung văn bản phải thể hiện rõ các yêu cầu về lực lượng, biện pháp nghiệp vụ, trang thiết bị, thời gian, địa điểm cần phối hợp. Thông báo bằng văn bản cho đơn vị phối hợp biết kết quả điều tra, xử lý.

3.3. Trường hợp khẩn cấp, cần ngăn chặn ngay hành vi vi phạm, tẩu tán tang vật, bắt giữ đối tượng bỏ trốn; có thông tin chính xác về hành vi vi phạm thì các Chi cục Hải quan, đơn vị thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố và các Đổi Kiểm soát, Hải đội kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu trực tiếp phối hợp:

a) Vụ việc thuộc kế hoạch, chuyên án của đơn vị kiểm soát hải quan đang đấu tranh thì đơn vị kiểm soát gửi yêu cầu phối hợp bằng điện fax, giấy giới thiệu (do lãnh đạo cấp Cục hoặc Chi cục, Đội Kiểm soát, Hải đội ký) hoặc cử cán bộ làm việc trực tiếp với Chi cục Hải quan (nơi xảy ra vi phạm) thông báo quyết định khám xét, tạm giữ và yêu cầu tổ chức thực hiện quyết định.

Chi cục Hải quan có trách nhiệm bố trí lực lượng, trang thiết bị, phương tiện cần thiết thực hiện quyết định; Đồng thời báo cáo lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh, thành phố biết, chỉ đạo.

b) Cán bộ kiểm soát hải quan, khi thực hiện nhiệm vụ phát hiện vụ việc khẩn cấp (không thuộc kế hoạch, chuyên án của đơn vị đang đấu tranh) thì làm việc với Chi cục Hải quan cửa khẩu (nơi xảy ra vi phạm) để Chi cục chủ trì tổ chức ngăn chặn, khám xét, bắt giữ, báo cáo lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh, thành phố; Đồng thời báo cáo lãnh đạo đơn vị.

4. Xử lý hàng hóa, phương tiện, tang vật vi phạm:

4.1. Trường hợp xác định toàn bộ lô hàng vi phạm phải xử phạt hành chính, truy thu thuế: đơn vị chủ trì ra quyết định xử phạt theo thẩm quyền, Chi cục Hải quan ra quyết định truy thu thuế theo quy định.

4.2. Trường hợp xác định toàn bộ lô hàng vi phạm phải xử phạt hành chính, tịch thu hàng hóa vi phạm:

a) Đơn vị chủ trì ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện, quyết định xử phạt và chịu trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm.

b) Trường hợp đơn vị chủ trì là Cục Điều tra chống buôn lậu thì tạm giữ, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hoặc phối hợp Cục Hải quan tỉnh, thành phố bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm.

c) Trường hợp đơn vị chủ trì là Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố thì tạm giữ, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hoặc bàn giao cho Chi cục Hải quan cửa khẩu nơi xảy ra vi phạm; bàn giao cho Phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố (những vụ việc đang chờ quyết định xử lý của Cục).

4.3. Trường hợp vi phạm hình sự thì phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật.

4.4. Trường hợp phát hiện, bắt giữ quả tang vụ án ma túy hoặc nghi là ma túy thì phối hợp và chuyển giao vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

4.5. Trường hợp xác định một phần lô hàng vi phạm:

a) Đối với phần lô hàng vi phạm phối hợp xử lý theo quy định tại điểm 4.1 và 4.2 khoản 4 Điều này.

b) Đối với phần lô hàng không vi phạm thì đơn vị chủ trì lập biên bản chứng nhận. Chi cục Hải quan tiếp tục làm thủ tục hải quan.

5. Chi phí hoạt động ngăn chặn, bắt giữ, điều tra, xử lý và các khoản chi phí khác (lưu kho, bốc xếp, …) đảm bảo từ nguồn kinh phí của đơn vị chủ trì, theo chế độ hiện hành, Quyết định số 82/2005/QĐ-BTC ngày 21/11/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế quản lý và sử dụng kinh phí chi cho hoạt động nghiệp vụ đặc thù của lực lượng kiểm soát hải quan, Thông tư số 59/2008/TT-BTC ngày 04/7/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý, sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, Thông tư số 51/2010/TT-BTC ngày 14/4/2010 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 59/2008/TT-BTC, Quyết định số 3107/QĐ-BTC ngày 26/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế quản lý, sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả.

6. Khi cần thiết, lãnh đạo Tổng cục Hải quan chỉ đạo, tổ chức kiểm tra việc điều tra, xử lý, giải quyết đối với các chuyên án, vụ việc vi phạm.

5. Điều kiện đảm bảo

1. Lực lượng kiểm soát hải quan được trang bị, sử dụng phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ cần thiết để phục vụ cho hoạt động kiểm soát hải quan theo quy định của pháp luật và Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2011 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

2. Cán bộ kiểm soát hải quan được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp luật và các kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hải quan.

3. Trong quá trình điều tra, xác minh, đấu tranh chuyên án, thủ trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm phân công cán bộ kiểm soát hải quan được đào tạo nghiệp vụ, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn nghiệp vụ.

4. Tuyển dụng, luân chuyển cán bộ kiểm soát hải quan theo quy định của Nhà nước, của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, đảm bảo tính chuyên sâu nghiệp vụ kiểm soát hải quan.