NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Các trường phái chính trị pháp lý hình thành:

Từ giữa thế kỷ V TCN ở nhiều nơi khác nhau của Hy Lạp đã xuất hiện những nhà bác học đặc biệt, họ tự cho mình là “những bậc thầy triết học” (các nhà ngụy biện), làm nhiêm vụ dạy kiến thức và kỹ năng hoạt động chính trị. Những nhà ngụy biện có nhiêu quan điểm khác nhau vê triết học, chính trị và pháp lý, từ đó, hình thành hai trường phái: Phái tiến bộ gôm những người bảo vệ nên dân chủ và mang lại sự khai sáng (Prôtago, Goócghi, Antiphôn, Ghippi, Prôđích, Licôphôn, Akiđam); còn phái khác là phái phản động tự do vô chinh phủ và cá nhân chủ nghĩa, bảo vệ tâng lớp quý tộc chuyên quyền (Phrađimác, Cacliclơ, V.V..)

2. Tư tưởng chính trị pháp lý của Đemôcrít

Lịch sử phát triển tư tưởng về Nhà nước và pháp luật cổ Hy Lạp được đánh dấu bằng hệ tư tưởng của một trong Những trí tuệ thiên tài thời kỳ cổ đại:

Đemôcrít (460 - 370 TCN). Là người đầu tiên lý giải một cách khoa học vê sự xuất hiện và hình thành con người, xã hội loài người, ông coi đó là một quá trình phát triển tự nhiên của thế giới; Sự ra đời, tồn tại của Nhà nước, pháp luật là một quá trình phát triển tự nhiên và tất yếu.

Ở ông, Nhà nước và pháp luật đã xuất hiện không hề phụ thuộc vàọ một thế lực thần bí nào. Sự xuất hiện của chúng là kết quả đấu tranh lâu dài của con người bị thiếu thốn và đè nén trong xã hội tiên văn minh buộc phải sống liên kết với nhau thành cộng đông. Nhà nước là sự thể hiện các quyền lợi chung của các công dân trong đó. Nó chỉ thể thực hiện vai trò nên móng cho những người Hy Lạp tự do trong những điều kiện tiên quyết sau:

+ Phải có sự tuân thủ chính xác của tất cả mọi người đối với luật pháp và có những hành vi phù hợp với vai trò là thành viên trong thành bang;

+ Phải có sự bình đẳng và nhất trí của mọi công dân;

+ Không có nội chiến.

Phải chăng chính Đêmôcrít đã đặt viên gạch đầu tiên cho quan niệm pháp chế ở những thời đại sau nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay. Theo ông các đạo luật là phương tiện bảo đảm cho đời sống thuận lợi của con người trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội.

Không giản đơn tách, chính trị và quản lý ra khỏi tự nhiên, Đêmôcrít đã tuyên bô' chính trị và quản lý là kết quả của Những nỗ lực của con người. Ông coi chính trị và quàn lý là một nghệ thuật diệu kỳ. Theo ông quyền lực trong các cơ quan hành chính phải thuộc vê những người có trí tuệ và hiểu biết. “Đạo đức đòi hỏi phải có sự tuân thủ pháp luật, chính quyền và sự hơn hẳn về trí tuệ. Thật khổ tâm khi phải chịu sự lãnh đạo của một người thấp kém hơn. Điều hợp lẽ tự nhiên là người giỏi hơn phải nắm quyền Điều hành”. Với cách nhìn khoa học, ông cho ràng mọi người được giáo dục và đào tạo thích đáng đều có thế Điều hành được công việc Nhà nước, rằng trí thức không phải là sự thiên bẩm của con người.

3. Tư tưởng chính trị pháp lý của Platôn

3.1 Tìm hiểu về Platôn:

Platôn (427 - 347 TCN) là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, là học trò của Xôcrát. Ông là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm triết học. Những quan điểm chính trị - pháp lý của ông luôn thay đối trong suốt cuộc đời sáng tạo của ông.

3.2 Các tác phẩm lớn của Platôn

Tư tưởng Nhà nước và pháp luật của Platôn được trình bày chủ yếu trong hai tác phẩm đối thoại Iớn là “Nhà nước” và “các luật”. Các quan điểm và Nhà nước và pháp luật của ông đều được dâng lên thành lý trí. Nhà nước lý tưởng, theo ông, đó là khả năng biểu hiện cực đại của tư tưởng. Ờ ông sớm hình thành tư tương phân quyền dưới hình thức phân công lao động giữa những hạng người khác nhau trong xã hội, tư tưởng đó có sự gân gũi thuyết giáo Balamôn. Ông cho rằng nguyên tắc cơ bản của “xã hội lý tưởng” vốn là “một cơ thể thông nhất không bị phân chia” là sự phàn công lao động giữa các tầng lớp người khác nhau. Những nhà triết học, những nhà quân sự, những người lao động (thợ thủ công và nông dân). Từ đó ông cho ràng phân công lao động trong bộ máy Nhà nước là cần thiết. Lập pháp, hành pháp và tư pháp đêu là những hoạt động Nhà nước “cùng nhằm vào một đối tượng, nhưng Đồng thời chúng khác nhau”. Vê Điều này, Mác đã đánh giá một cách sâu sắc hình ảnh hiện thực trong học thuyết không tưởng của Platôn: “chừng nào nước cộng hòa Platôn, sự phân công lao động còn được coi là nguyên tắc cấu tạo quốc gia, thì nước cộng hòa đó chỉ là sự lý tường hóa theo kiếu Aten chế độ đẳng cấp Ai Cập” ll).

3.3 Các tư tưởng chính trị pháp lý

Theo Platôn, hình thức chính trị tương ứng của một Nhà nước lý tưởng là nước cộng hòa quý tộc kiểu Xpacta, trong đó giới chóp bu của giai cấp chủ nô cầm quyền có khả năng dường như hiểu được những tư tưởng siêu đảng và nắm được những phương pháp cai trị đối với toàn bộ đám đông dân chúng còn lại.

Vê mặt hình thức, Nhà nước lý tưởng có thể được thiết lập, theo Platôn, họặc là hình thức quân chủ, hoặc là hình thức quý tộc. Ông cho rằng mọi thể chế Nhà nước tồn tại trên thưc tế đều đối lập với lý tưởng chính trị và là hình mẫu phản diện của thiết chế xã hội. Ông nhận xét tinh tế: “Cho dù là Nhà nước nào đì nữa thì trong đó bao giờ cũng có 2 Nhà nước thù địch lẫn nhau: một ià Nhà nưóc của người giàu có, còn Nhà nước kia là của người nghèo khổ”. Trong vấn đề này không thể không công nhận tính hiện thực của Platôn.

Để tạo ra sự bền vững không gì lay chuyển nổi Nhà nước lý tưởng của mình. Platôn cho răng cần có sự thống nhất vê sở hữu, phụ nữ, trẻ em và ìối sống đối với các nhà triết học và chiến binh là sự giáo dục của Nhà nước đối với các tầng lớp này.

Nhà nước lý tưởng của Platôn đã không trở thành hiện thực. Ông ta chỉ còn cách than vãn là dự án của mình (mô tả trong “Nhà nưóc”) “chỉ dành cho thánh thần và con cháu thánh thần”. Ông bắt đầu tìm kiếm phương án cải cách thể chế Nhà nước và pháp luật.

Platôn tiếp tục bảo vệ nguyên tắc bất công xã hội và tính chế định phạm vi các quyền chính trị của công dân tùy thuộc thành phần xã hội của người đó. Trong số các công dân được chia thành 4 giai cấp (bao gôm cả thảy 5040 người), giờ đây không kể thợ thủ công và thương nhân (“Các luật”, quyển 8). Làm ruộng là công việc của nô lệ. Thường dân bị cấm sinh sống ở các đô thị. Tài sản chung của các nhà triết học và chiến binh được bãi bỏ. Xóa bỏ sự phân cực nguy hiểm vê tài sản đo sở hữu của tư nhân sinh ra. Platôn đê nghị chuyển giao toàn bộ tài sản cá nhân vượt quá mức tối đa quy định cho Nhà nước.

Cũng như trước đây, việc điều hành Nhà nước thuộc vê người thượng lưu bao gồm các nhà triết học và am hiểu chân lý. Giờ đây, Điều cần nhấn mạnh thêm, họ phải là những công dân cao tuổi và hiểu biết nhất. Các cuộc bầu cử và các cơ quan bầu cử mang tính hình thức do Platôn đưa ra đã không làm thay đổi được cái lõi của vấn đề, bởi lẽ đặc quyền của những người giàu có và quyên quý quá lớn, nên hoàn toàn chỉ đảm bảo sự thống trị tuyệt đối của các đẳng cấp quý tộc thượng lưu.

Cả bốn giai cấp công dân đều tham gia vào việc thiết lập cơ quan bầu cử của Nhà nước Đó là Hội đồng 360 người. Mỗi giai cấp được lựa chọn 90 thành viên đại diện cho mình. Tất cả mọi người, trừ những người thuộc về giai cấp hạ đẳng, tức giai cấp thứ tư, có trách nhiệm tham gia vào việc bầu cử thêm nữa những người thuộc hai giai cấp thượng lưu sẽ bị trừng phạt một khi lẩn tránh trách nhiêm này.

Chính quyền thực tế tập trung trong tay 37 thành viên bảo vệ pháp luật. Các đẳng cấp thượng đẳng này được bầu với nhiệm kỳ không quá 20 năm từ trong sô' “có thể được là 100 người ưu tú nhất” (Platôn). Những người bảo vệ pháp luật vê phần mình xác dinh ứng cử viẽn cho những chức vụ thấp hơn. Những người được giữ chức vụ đó cũng hành động tương tự. Đó là trật tự thiết lập thể chế quyền lực phức tạp nhằm thực hiện lãnh đạo cho Nhà nước.

Không thể không nói đến những quan điểm của ông vê vai trò của pháp luật trong đời sống Nhà nước, xã hội. Quan điểm quản iý đất nươc bàng những đạo luật công bằng đã hình thành ở Platôn. Ông cho răng Nhà nước lý tưởng lă Nhà nước có các đạo luật công bằng. Khi viết về các đạo luật công băng Platôn đã chỉ ra răng, các đạo luật công bàng là các quyết định của trí tuệ, được thiết lập vì lợi ích chung của tất cả quốc gia chứ không phải của một cá nhân người cầm quyền. Toàn bộ quan ' điểm của Platôn được biểu đạt trong câu nối tiếng của ông, theo chúng tôi vẫn còn nguyên giá trị tới ngày nay, ông viết: “tôi nhìn thấy sự sụp đổ mau chóng của Nhà nước, ở nơi nào mà luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Còn ở đâu mà luật đứng trên nhà cằm quyên, còn họ chỉ là nô lệ của luật thì ồ đó tôi nhìn thấy sư. cứu thoát của Nhà nước và tất cả các lợi ích mà chỉ có thượng đế mới có thể ban phát cho các Nhà nước”

4. Tư tưởng chính trị pháp lý của Arixtốt

Arixtốt (384-322 TCN) là người kế tực phát triển các tư tưởng chính trị pháp lý cổ đại sau Platôn, là học trò và là người phê phán những quan điểm, tư tưởng Platôn, Mác đã coi Arixtốt là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại.

Arixtốt đã tổng kết và phát triển một cách tài tình các kểt luận của các bậc tiên bối về nguồn gốc và bản chất, hình thức và vai trò của Nhà nước và pháp luật, trong hai tác phẩm của mình: “chính trị” và “chính thể Aten”.

Arixtốt đã chứng minh, lý giải làng chính bản thân sự tôn tại của xã hội loài người đã làm phát sinh sự bất công, mà chế độ chiếm hữu nộ lệ là nguồn gốc cơ bản và biểu hiện chính của sự bất công đó. Đây chính là quan điểm tiến bộ của ống so với các nhà tư tưởng trước đó. Nhưng Đồng thời chính Arixtốt mắc phải sai fâm khi cho lằng: “bản thân tự nhiên sinh ra một số người cầm quyền và thống trị, một số khác là kẻ bị trị và nô lệ. Chế độ nô lệ - đó là nên tảng, Điều kiện cần thiết cho sự t?ôn tại của Nhà nước, bởi lẽ sự lao động cực nhọc để duy trì cuộc sống làm cho người tự do mất khả năng thỏa mãn cuộc sống tốt đẹp, tức là khả năng tham gia vào các công việc Nhà nước”.

Nhà nước không phải là kết .quả của sự thỏa thuận giữa mọi người với nhau dựa trên ý chí,của họ. Nhà nước xuất hiện tự nhiên, được hìhh thành do lịch sử. Tôn tại trong ý thức hệ siêu hình, nó được phát triển từ gia đình và làng xã (tố hợp các gia đình) với tư cách là một hình thức tổng thể và hoàn thiện nhất trong giao tiếp giữa mọi người - những thực thể chính trị và do những thúc đẩy bên trong mà liên kết lại, nhằm đạt tới cuộc sống sung sướng.

Việc tìm kiếm phương án thực hiện một chế độ chính trị hoàn thiện nhất được Arixtốt trình bày một cách chi tiết trong việc phân loại các Nhà nước theo hình thức của chúng. Các tiêu chí để phân biệt của ông là:

+ Số lượng người cam quyền trong Nhà nước;

+ Mục đích thực hiện của Nhà nước.

Theo tiêu chí đầu, ông phân biệt sự èãm quyền của một người, của một số người, và của đa số. Theo đặc điểm sau, ông phân chia mọi thiết chế Nhà nước thành các loại đúng (trong đó thực hiện được lợi ích chung) và sai (trong đó chỉ có mưu câu mục đích cá nhân). Do đó, gắn với các hình thức Nhà nước- cơ bản đúng là chế độ quân chủ, chế độ quý tộc và thể chế chính thể; những hình thức sai là nền bạo chính tập đoàn thống trị và chế độ dân chủ. Đây chính là sự sai lầm của ông đã đồng nhất chế độ dân chủ với quân chủ hạn chế và chế độ tàn bạo.

Bản thân Arixtốt ủng hộ thể chế được gọi là chính thể. Tổng hợp các đặc tính của chế độ chuyên chế tập đoàn và dân chủ, Đồng thời loại trừ .sự tham gia của thiểu số’ công đân vào việc Điều hành Nhà nước, chế độ chính thể có khả năng hơn cả, làm đại diện cho ìâng lớp trung gian trong đòi sống Nhà nước. Arixtốt hoàn toàn không hy vọng răng chính những người Hy Lạp sẽ áp dụng thiết chế chính thể đó. Trong các quốc gia thành bang Hy Lạp tồn tại, thói quen đau bùôn là không hướng tới thiết chế Nhà nưóc đúng. Người Hy Lạp không muôn có sự bình đẳng, họ chỉ quen thống trị hoặc bị khuất phục. Thiếu sự trợ gịúp từ bên ngoài là không xong được.

Theo Arixtốt, vì sao sự kết hợp giữa hai hình thức Nhà nước sai lại đem lại phương án tối ưu của thể chế chính trị? yấn đê là ở chỗ, trong chế độ dân chủ đương nhiên không phải là ông quan tâm đến chính nguyên tắc tham gia của nhân dân trong việc quản lý Nhà nước, mà chỉ quan tâm đến hệ thô'ng các biện pháp nhằm loại trừ việc tiếm quyền. Còn đối với tập đoàn thông trị, ông ưa thích trước hết là việc lãnh đạo xã hội từ phía những người giàu có khá giả, luôn luôn hướng tới sự ổn định trật tự. Arixtốt hiểu răng hình thức Nhà nước phụ thuộc vào mối tương quan giứa người giàu kẻ nghèo trong xã hội. Ông thấy rằng người nghèo chiếm đa số trong xã hội, tuy vậy ông không chấp nhận vai trò của họ trong đời sống Nhà nước, xã hội và hoàn toàn không chấp nhận hên dàn chủ. Arixtốt coi thể chế dân chủ vào loại thể chế suy đồi vì ở đó nhửng người bình dân sẽ nắm chính quyền.

Một trong những quan điếm nổi bật của Arixtôt về tố chức thực hiện quyền lực Nhà nước rất đáng quan tâm. Ông chia quyền lực Nhà nước thành ba bộ phận lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó lập pháp có chức năng ban hành các đạo luật, hành pháp (bộ máy hành chính thư lại) chỉ thực hiện, không ban hành pháp luật, tư pháp chỉ xét xử trên ọơ sở luật. Theô ông, ba bộ phận này tạo nên cơ sở của mọi Nhà nước, và chính sự khác biệt của thé chế Nhà nước quyết định phương thức tổ’ chức cũa mỗi bộ phận đó. Quan điểm phân quyền của ông trong tố chức bộ máy Nhà nước, vê sau được các nhà tư tướng tư sản đưa lèn trình độ pháp lý mới.

Là nhà khoa học vĩ đại, ông không chỉ nghiên cứu vấn đê Nhà nước mà còn râ't quan tâm đến pháp luật. Arixtốt đã đê cập đến các vân đề pháp luật trong các tác phẩm “Đạo đức học” và “thuật hùng biện”. Đối với Arixtốt trong pháp quyền bộc lộ rõ bản chất của Nhà nước, bởi lẽ bằng pháp luật các quyền của công dân được thể hiện và củng cố. Nhiệm vụ của pháp luật - trự giúp các cá nhân tự thỏa mãn trong các mối quan hệ vê quyền. Ông cho rằng toàn bộ lĩnh vực quyền là biến đổi, không phải ở đâu “quyền con người” cũng giống nhau; mà ngược lại rất khác nhau, có mức độ khác biệt vê quyền giữa những người giàu và những người nghèo. Arixtốt phân biệt hai loại pháp luật: chung, tự nhiên và riêng được xác lập trong mỗi dân tộc. Các pháp luật chung cao hơn pháp luật riêng. Tổng thể pháp luật tạo thành công lý chính trị hay pháp luật chỉ tôn tại trong các mối quan hệ giữa những người tự do và bình đẳng (theo nghĩa bình đẳng tuyệt đối vói nhau). Song Arixtốt hoàn toàn không đòi hỏi phải có sự bình đẳng vê chính trị của tất cả các công dân.

Đánh giá về vai trò của đạo đức trong đời sống xã hôi, Nhà nước, Arixtốt coi các quy phạm pháp luật là “công lý”. Hành động công bằng - là hành động theo pháp luật. Chính ở đây ông đã coi các quy phạm pháp luật khuôn nìẫu quy tắc hành vi, quy tắc xử sự giữa con người với con người.

Theo Arixtôt, công lý còn có nghĩa là mối tương quan của pháp luật với các công dân của quốc gia, ở đây có 2 mặt. Một mật là công lý phân chia, được thể hiện “trong việc phân bổ công danh, hay tiên bạc, hoặc nói chung là tất cả những gì có thế chia được giữa mọi người trong một xã hội nào đó”, ơ ông, công lý một mặt đưực phân chia chủ yếu là trong lĩnh vực chính trị (“mọi lựi ích chung của công dân”) tương ứng vói địa vị và phâìn giá của từng cá nhàn. Chinh ở đây, Arixto't đã mâu thuẫn với chính mình, đi tìm “công bằng” trong chính những quan điểm chính trị vô'n rất bất công băng.

Mặt khác, theo ông, công lý “được thể hiện trong việc cào băng mọi thư có thế trao đối”. Nên công lý cào bàng chủ yếu là trọng lĩnh vực lợi ích'cá nhân, lĩnh vực các “khế ước dân sự”. Arixtốt chỉ rõ: “pháp luật chỉ chú trọng đến mức độ thiệt hại, còn mọi cá nhân đều bình đẳng”.

Ngoài ra ông đă nhìn thấy tính “quy phạm phổ biến” của pháp luật. Theo ông, pháp luật trừu tượng không thể thâu tóm, Điều chỉnh được mọi quan hệ xã hội. Nếu như trường hợp cụ thể nào đó không được điều chỉnh thì cần phải bổ sung vào pháp luật, nhưng phải bố’ sung đúng dự định của nhà lập pháp sẽ làm. Thực chất của sự thật là như vậy, nó thể hiện trong việc Điều chỉnh pháp luật khi do tính phổ quát của mình không đáp ứng được yêu câu".

Là người hoài cổ, ông lo những biến động xã hội đo sự phân chia sở hữu dẫn tới những cuộc cách mạng có thể dẫn tới việc lật đố’ chế độ chủ nô. Ông sợ mọi thay đổi đột ngột của pháp luật, bởi lẽ sự thay đổi đó không chỉ bất lợi, mà còn có nguy cơ làm phá vỡ chính sức mạnh của pháp luật và thúc đẩy sự chông đôi chính quyền.

Là người có quan điểm địa - chính trị, ông cho răng các yếu tố lãnh thổ, khí hậu, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng tới thiết chế Nhà nước, tới việc tuân thủ pháp luật trong quốc gia. Ông đưa ra chính sách “đóng cửa biên giới” nhàm hạn chế sự tiếp xúc của dân chúng với thế giói bên ngoài, hạn chế người nước ngoài vào đất nưóc.

Mặc dầu trong các vấn đê pháp luật và Nhà nước, Arixto't không ủng hộ những tư tưởng phản động của người thầy mình là Platôn và cũng không phải là nhà tư tưởng của giai cấp quý tộc, nhưng vẫn không thể gọi ông là nhà lý luận chính trị, có tư tương dân chú. Điều này hoàn toàn không hạ thấp những cộng hiến vĩ đại của ông trong việc phát triển học thuyết vê Nhà nước và pháp luật.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê