1. Kinh tế học có từ thời cổ đại
Trong suốt lịch sử, kinh tế học không có nét nhận dạng riêng, tách biệt với tư tưởng xã hội nói chung. Ngay cả vào cuối thế kỷ 18, Adam Smith xem kinh tế học là tập hợp con của khoa luật học. Điều này khiến cho việc tìm kiếm các nguyên tắc đầu tiên của lý luận kinh tế trở nên khó khăn hơn, không phải vì chiếc tủ tri thức của người xưa trống rỗng mà vì những đường phân ranh giữa các môn khoa học xã hội không rõ. Kinh tế học phải có những điểm riêng khi được nhận dạng cùng với tiến trình thị trường tự điều tiết, và sự khám phá thị trường như một tiến trình tự điều tiết là một hiện tượng trong thế kỷ 18. Thế nhưng, mầm mống phân tích kinh tế đã được gieo trước đó rất lâu, vào thời Hy Lạp cổ đại, cội nguồn của nền văn minh phương Tây.
2. Kinh tế học theo cách nhìn của người Hy Lạp cổ đại
Các mẫu tư duy của chúng ta, cái khung trong đó tư tưởng chúng ta xuất hiện và lưu thông, cái hình thức ngôn ngữ trong đó chúng ta diễn đạt tư tưởng, và cái quy tắc khống chế tư tưởng, tất cả những cái ấy đều là sản phẩm của người xưa. Nhận thức này khiến cho triết gia Gomperz phải viết, “Ngay cả những người thậm chí không hề biết đến các học thuyết và trước tác của những bậc thầy thời cổ đại, và những ai chưa từng nghe đến tên Plato và Aristotle vẫn bị bùa mê của họ”. Chính thuật ngữ “kinh tế học” cũng lấy từ chữ Oeconomicus trong giáo trình định chế quản lý và lãnh đạo hiệu quả của Xenophon. Những gì mà người Hy Lạp cổ đại đóng góp cho kinh tế học là tiếp cận hợp lý với khoa học xã hội nói chung.
Kinh tế học của họ được mô tả như “tiền thị trường”, không phải theo nghĩa thiếu vắng mậu dịch, mà đúng ra dưới dạng sản phẩm không đồng dạng, cũng như không buôn bán bằng các trao đổi được tổ chức, cũng như không phân tích về quyền lợi của riêng mình. Đời sống chính trị, kinh tế từ năm 500 tr. CN đến 300 tr. CN, chủ yếu là bị chiến tranh chi phối. Các nhà tư tưởng Hy Lạp chủ yếu quan tâm đến tính hiệu quả kinh tế, tính hiệu quả tổ chức và thế giới quan của họ là lấy con người làm trung tâm chứ không phải là theo thuyết cơ giới. Nói cách khác, con người là tâm điểm của mọi vấn đề. Người Hy Lạp cổ đại đặt nặng vào khả năng tự điều tiết của các cá nhân, cá nhân phải ra quyết định hợp lý và phải tối đa hóa hạnh phúc cho con người. Những người Hy Lạp cổ đại không phát hiện ra thương trường tự điều tiết vốn là bản chất của kinh tế học hiện đại.
3. Tư tưởng về chủ nghĩa cá nhân của người Hy Lạp cổ đại
Văn hóa Hy Lạp cổ đại chấp nhận hai tư tưởng về chủ nghĩa cá nhân tương phản với nhau. Một mặt, một nhà cầm quyền được trao quyền ra quyết định hành chính thay mặt cho quyền lợi của xã hội. Điều này dẫn đến sự phát triển việc tính toán hợp lý dựa trên quan điểm về một cá nhân được xác định trừu tượng như một đơn vị xã hội cơ bản. Mặt khác, mỗi gia đình mang tính tộc trưởng và định hướng thành công, dẫn đến sự phát triển của cá nhân nam công dân như một người làm ra quyết định cơ bản. Hai hình thức chủ nghĩa cá nhân tương phản này, vừa “vĩ mô” lẫn “vi mô”, chính thức góp phần vào sự nhấn mạnh xã hội Hy Lạp dựa trên sự quản lý gia đình riêng (oikonomics) và dẫn đến sự phát triển cách tính toán hưởng lạc của tư lợi hợp lý.
Vì người Hy Lạp tập trung vào các yếu tố kiểm soát của con người, nên họ phát triển nghệ thuật quản lý nhiều hơn là khoa học kinh tế. Kinh tế học của họ, xét cho cùng là cơ bản và giản đơn, bao gồm nông nghiệp và mua bán hạn chế trong cung điện. Việc sản xuất ra sản phẩm được giám sát trên quy mô lớn tài sản đất đai và trong các lâu đài của thủ lĩnh quân sự. Nhà nước có một ít chi tiêu phi quân sự, chủ yếu là dành cho các hoạt động tôn giáo và quân sự. Trong tiến trình hoàn thiện tính chất quản lý, người Hy Lạp phát triển cấu trúc phân tích có ý nghĩa trong lý thuyết kinh tế. Nói chung, các thành phần sau đây của kinh tế học hiện đại phát xuất từ suy nghĩ của người Hy Lạp: tính toán hưởng lạc, giá trị chủ quan, giảm tính hiệu dụng biên tế, tính hiệu quả và phân bố tài nguyên. Các tác giả quan trọng đóng góp cho phân tích kinh tế trong thời kỳ này là Xenophon, Plato, Protagoras, và Aristotle.
4. Tìm hiều một vài nét về nhà sử học Xenophon
Xenophon (/ˈzɛnəfən, -ˌfɒn/; Greek: Ξενοφῶν [ksenopʰɔ̂ːn], Xenophōn; khoảng 427 – 355 TCN), con của Gryllus, of the deme Erchia của Athens, cũng được gọi là Xenophon của Athens, là một nhà sử học, người lính, lính đánh thuê người Hy Lạp và là học trò của Socrates. Trong khi không được những người cùng thời coi là một nhà triết học, vị thế triết gia của ông vẫn là một đề tài gây tranh cãi. Ông được biết đến vì đã viết lịch sử của thời đại ông sống, những năm cuối thế kỷ thứ 5 và đầu thế kỷ thứ 4 TCN, đặc biệt những ghi chép của ông trong những năm cuối cùng của chiến tranh Peloponnesus. Tác phẩm Hellenica của ông đã kể lại lịch sử thời gian đó, được coi là sự kế thừa của tác phẩm History of the Peloponnesian War của Thucydides. Sự tham gia thời trẻ của ông trong chiến dịch thất bại Cyrus the Younger để chiếm ngôi vua Ba Tư đã tạo cảm hứng cho ông viết tác phẩm Anabasis nổi tiếng nhất của mình.
5. Xenophon bàn về tổ chức, giá trị, và sự phân công lao động
Philip Wicksteed, một nhà kinh tế học người Anh nổi tiếng trong thế kỷ 19 viết rằng kinh tế học “có thể bao gồm việc nghiên cứu các nguyên tắc quản lý chung về các tài nguyên, cho dù đó là của một cá nhân, một hộ gia đình, một doanh nghiệp hay một nhà nước, kể cả việc nghiên cứu nhiều cách trong đó sự lãng phí phát sinh trong toàn bộ sự quản lý như thế”. Bằng tiêu chuẩn này, Xenophon (k. 427-355 tr. CN) nên được đánh giá là một trong những nhà kinh tế sớm nhất. Tác phẩm của ông là một bài ca tán tụng khoa học quản lý.
Vốn là một chiến binh được trao huân chương và là môn đệ của Socrates, Xenophon diễn đạt tư tưởng của mình theo nghĩa người ra quyết định cá nhân, cho dù ông có là chỉ huy quân sự, nhà quản lý hay người đứng đầu gia đình đi nữa. Ông ngẫm nghĩ tính hiệu quả của các diễn tiến hành động đối lập với tính không hiệu quả. Tác phẩm Oeconomicus của ông nghiên cứu tổ chức thích hợp và quản lý các công việc công và tư, trong khi tác phẩm Ways and Means của ông lại quy định diễn tiến làm hồi sinh nền kinh tế thành Athens vào giữa thế kỷ 4 tr. CN. Xem môi trường vật chất như đã được xác định, Xenophon tập trung vào khả năng con người được hướng dẫn bởi khả năng lãnh đạo tốt, như là biến số chính trong việc quản lý.
Một người quản lý tốt phấn đấu gia tăng kích thước thặng dư kinh tế của bất kỳ đơn vị nào mà anh ta giám sát (như gia đình, thành phố, nhà nước). Đối với Xenophon, điều này đạt được bằng kỹ năng, mệnh lệnh và một trong những nguyên tắc kinh tế cơ bản nhất, là sự phân công lao động. Trong tác phẩm của Adam Smith, sự phân công lao động trở thành các chốt trục xe của sự tăng trưởng kinh tế, chúng ta sẽ đề cập trong chương 5, nhưng những ngụ ý kinh tế quan trọng được thừa nhận ở thời cổ đại. Xenophon quy sự gia tăng cả số lượng lẫn chất lượng sản phẩm vào nguyên tắc phân công lao động. Vả lại, ông đưa thảo luận vào trong phân tích mối quan hệ giữa sự tập trung dân số với sự phát triển kỹ năng và sản phẩm chuyên môn hóa. Khả năng này là phần căn bản trong lời tuyên bố nổi tiếng của Adam Smith cho rằng sự chuyên môn hóa và sự phân công lao động được giới hạn bởi quy mô thị trường.
Theo Xenophon, người lãnh đạo là cá nhân đặc biệt, tổ chức hoạt động con người - đương đầu với các tác động của tự nhiên chứ không phải là tác động của nền kinh tế cạnh tranh. Mặc dù người lãnh đạo được thúc đẩy bằng tính tư lợi, hành vi hám lợi như thế không được xem là “tự nhiên”. Đúng ra, tiến trình kinh tê' ở chỗ người thông minh sử dụng nhận thức và lý trí rút ra từ tự nhiên những gì cần thiết để đáp ứng nhu cầu của con người và để khỏi lo âu. Sự theo đuổi sự vui thú và tránh đau khổ này chủ động và hợp lý chính thức được thừa nhận trong học thuyết chủ nghĩa khoái lạc, vốn là một phần trong nhận thức của đa số người Hy Lạp. Nhiều thế kỷ sau, cùng tư tưởng như thế lại xuất hiện trong thuyết giá trị chủ quan đánh dấu sự khởi đầu kinh tế học Tân cổ Điển.
Một ví dụ về cách sử dụng thuyết giá trị chủ quan của Xenophon tiên đoán tư tưởng kinh tế hiện đại cho dù không đặt trong bối cảnh thị trường rõ ràng. Đối với việc tiêu dùng lương thực, ông nhận xét trong Hiero rằng:
“Bày ra trước mặt một người số món ăn dư thừa càng nhiều thì cảm giác no nê đến với người ấy càng nhanh, vì thế, được xem là sự thích thú của anh ta kéo dài, và hơn thế con người có quá nhiều món ăn bày ra trước mặt còn tồi tệ hơn một người sống đạm bạc”.
Xenophon cũng tìm kiến hướng về sự phân biệt có ý nghĩa giữa một khái niệm cá nhân thuần túy chủ quan về giá trị và khái niệm chung khách quan hơn về tài sản hay sự giàu có .Ví dụ, trong thảo luận của ông về quản lý tài sản ông nhận thấy:
“Cùng những vật như nhau được xem là tài sản và không phải tài sản tùy thuộc vào người biết và không biết cách sử dụng chúng. Ống sáo chẳng hạn, là tài sản đối với một người có khả năng thổi sáo, nhưng đối với một người không biết thổi thì ống sáo không hơn gì cục đá vô dụng... trừ phi anh ta đem bán ống sáo...” trong trường hợp này, “ống sáo là tài sản”.
Vì thế, sau cùng, “tài sản là cái từ đó con người có thể kiếm lời”, nhưng nếu tài sản gây cho anh ta thiệt hại, thì không phải là tài sản:
“Ngay cả vùng đất cũng không phải là tài sản nếu làm chúng ta chết đói thay vì nuôi sống chúng ta”.
Cái quan niệm cho rằng chính kết quả của sự thích thú là do một điều tốt tạo ra chứ không phải chính bản thân điều tốt, đó là tâm điểm của thuyết Hiệu dụng trong kinh tế học. Xenophon phát triển thêm tư tưởng thuyết Hiệu dụng chủ quan trong đoạn văn đối thoại giữa Aristippus và Socrates, trong đó Aristippus hỏi:
“Ngài muốn nói rằng cả hai vật giống như nhau đều đẹp và xấu có phải không?” Socrates đáp, “Dĩ nhiên - cả hai đều tốt và xấu. Vì những gì xem là tốt đối với người đang đói thường là xấu đối với người bị sốt, và những gì là tốt đối với người bị sốt thường là xấu đối với người đang đói. Những gì là tốt đối với môn đấu vật là xấu tối với môn chạy. Vì tất cả sự vật đều tốt trong mối quan hệ với những mục đích mà chúng được thích ứng tốt, và xấu trong mối quan hệ với những gì chúng thích ứng kém”.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)