- 1. Thông tư liên tịch là gì?
- 2. Mục đích ban hành thông tư liên tịch là gì?
- 3. Xây dựng, ban hành thông tư liên tịch
- 4. Xác định hiệu lực Thông tư liên tịch theo quy định hiện hành
- 4.1. Quan điểm 1- Một số Thông tư liên tịch hướng dẫn cho Nghị định hết hiệu lực vẫn còn hiệu lực
- 4.2. Quan điểm 2 - Mọi Thông tư liên tịch hướng dẫn cho Nghị định hết hiệu lực thì hết hiệu lực
Cơ sở pháp lý căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi năm 2020) có thể phân tích như sau:
1. Thông tư liên tịch là gì?
Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì các Thông tư liên tịch sau đây là văn bản quy phạm pháp luật
+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
+ Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trước đây theo quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 còn có thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (khoản 11 Điều 2). Với chủ trương tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giảm bớt cồng kềnh thì không ghi nhận thông tư liên tịch này là văn bản quy phạm pháp luật nữa.
Cho đến nay, tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2020) đã có sửa đổi về nội dung này như sau:
“Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.”
Theo đó, hiện hành chỉ có Thông tư liên tịch giữa Chánh án toàn án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là văn bản quy phạm pháp luật. Không được ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trường, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ nữa.
Lưu ý: Không được quy định thủ tục hành chính trong thông tư liên tịch giữa Chánh án tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Mục đích ban hành thông tư liên tịch là gì?
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng.
Mục đích này đã được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2020) trở thành như sau: “Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp của các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng và phòng, chống tham nhũng”. Như vậy, mục đích của việc ban hành thông tư liên tịch có bổ sung thêm đó là phòng, chống tham nhũng.
3. Xây dựng, ban hành thông tư liên tịch
Điều 110 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định về xây dựng, ban hành thông tư liên tịch. Theo đó;
- Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thỏa thuận, phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.
- Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.
- Dự thảo được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.
Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thành viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.
- Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền ban hành thông tư liên tịch.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cùng ký ban hành thông tư liên tịch.
Điều 172 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2020) sửa đổi quy định về xây dựng, ban hành thông tư liên tịch như sau:
1. Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thỏa thuận, phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.
3. Dự thảo được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.
Dự thảo thông tư liên tịch có sự tham gia của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; dự thảo thông tư liên tịch có sự tham gia của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.
5. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền ban hành thông tư liên tịch.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cùng ký ban hành thông tư liên tịch.
Theo đó, về mặt thủ tục soạn thảo, ban hành không có gì thay đổi, chỉ thay đổi tên gọi thông tư liên tịch vì có sự thay đổi về đối tượng được ban hành như đã nêu ở mục 1.
4. Xác định hiệu lực Thông tư liên tịch theo quy định hiện hành
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật ban hành VBQPPL 2015) có hiệu lực thi hành, kể từ đó câu chuyện xác định tình trạng hiệu lực của các Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết cho Nghị định (đã hết hiệu lực) gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay, có hai nhóm quan điểm chính về việc xác định tình trạng hiệu lực của các Thông tư liên tịch hướng dẫn cho các Nghị định (hết hiệu lực) như sau:
4.1. Quan điểm 1- Một số Thông tư liên tịch hướng dẫn cho Nghị định hết hiệu lực vẫn còn hiệu lực
Theo Khoản 4 Điều 154, về cơ bản một văn bản đã hết hiệu lực thì văn bản hướng dẫn chi tiết nó đồng thời hết hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 172 của Luật ban hành VBQPPL 2015.
Khoản 2 Điều 172 quy định: “Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của UBND các cấp là VBQPPL được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng VBQPPL khác”.
Như vậy, nếu các văn bản thuộc Khoản 2 Điều 172 hướng dẫn cho một văn bản đã hết hiệu lực thì nó vẫn còn hiệu lực thi hành cho đến khi có văn bản mới chỉ định nó hết hiệu lực.
Mặt khác, Khoản 4 Điều 154, quy định: “VBQPPL hết hiệu lực thì VBQPPL quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực” chỉ áp dụng đối với các VBQPPL theo Luật ban hành VBQPPL 2015 và không áp dụng đối với Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của UBND các cấp là VBQPPL được ban hành trước ngày 01/7/2016 nên các Thông tư liên tịch của các bộ, cơ quan ngang bộ dù hướng dẫn cho Nghị định (hết hiệu lực) thì nó vẫn còn hiệu lực cho đến khi có văn bản mới chỉ định nó hết hiệu lực.
Còn những Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nếu hướng dẫn chi tiết thi hành cho một văn bản đã hết hiệu lực thì nó sẽ hết hiệu lực.
4.2. Quan điểm 2 - Mọi Thông tư liên tịch hướng dẫn cho Nghị định hết hiệu lực thì hết hiệu lực
Tinh thần chủ đạo của Quốc hội là làm hệ thống văn bản QPPL được logic, tinh gọn và thống nhất, nên tại Khoản 4 Điều 154 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”.
Với quy định này, có thể hiểu một khi văn bản “mẹ” hết hiệu lực thì văn bản “con” đồng thời hết hiệu lực. Như vậy, các Thông tư liên tịch hướng dẫn cho một văn bản hết hiệu lực thì hết hiệu lực.
Việc Khoản 2 Điều 172 quy định: “Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của UBND các cấp là VBQPPL được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng VBQPPL khác” không phải là quy định ngoại lệ để duy trì tính hiệu lực cho những Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của UBND cấp tỉnh trong trường hợp nó hướng dẫn thi hành cho văn bản đã hết hiệu lực mà là để làm rõ “Theo Luật cũ thì những văn bản này là VBQPPL, theo Luật mới thì VBQPPL không còn các loại này; nên trong thời gian chờ đợi VBQPPL theo Luật mới ra đời để bãi bỏ, thay thế cho những văn bản đó thì nó vẫn còn hiệu lực thi hành”. Điều đó có nghĩa là:
- Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của UBND cấp tỉnh là VBQPPL trước ngày 01/7/2016 vẫn còn hiệu lực thi hành cho đến khi có văn bản chỉ định nó hết hiệu lực nếu nó thuộc một trong các trường hợp sau:
+ VBQPPL đó được ban hành theo thẩm quyền (không hướng dẫn bất kỳ văn bản nào).
+ VBQPPL đó ban hành để hướng dẫn chi tiết một văn bản và văn bản này còn hiệu lực thi hành.
- Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của UBND cấp tỉnh là VBQPPL trước ngày 01/7/2016 sẽ hết hiệu lực nếu nó hướng dẫn thi hành cho một văn bản đã hết hiệu lực.
Cùng một vấn đề nhưng có hai cách hiểu khác nhau như trên nên thực tế việc xác định hiệu lực, áp dụng pháp luật đối với Thông tư liên tịch nói riêng và các văn bản QPPL khác nói chung cực kỳ khó khăn. Rất mong, Bộ Tư pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sớm ban hành văn bản để việc áp dụng pháp luật diễn ra một cách thống nhất và hiệu quả.
Về vấn đề này, chúng tôi thấy rằng quan điểm thứ nhất có phần hợp lý và đúng tinh thần của điều luật.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.