1. Thủ tục ly hôn và những vấn đề pháp lý cần quan tâm ?

Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp quy trình, thủ tục ly hôn theo quy định mới nhất hiện nay:

Luật sư phân tích:

1. Quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn:

- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

- Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

2. Thủ tục ly hôn:

a, Thủ tục đơn phương ly hôn:

- Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn theo mẫu.

+ Bản sao sổ hộ khẩu.

+ Bản sao chứng minh nhân dân.

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

+ Bản sao giấy khai sinh của con bạn.

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính). Trong trường hợp mất bản chính có thể đến nơi đăng ký kết hôn trước đây xin cấp lại bản sao hợp lệ, phải trình bày rõ lý do không có bản chính trong đơn ly hôn.

Lưu ý: các bản sao giấy tờ trên cần công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.

- Nơi nộp hồ sơ: Toà án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn có hộ khẩu thuờng trú, hoặc cư trú.

- Thời hạn giải quyết: thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn có thể là 2 tháng đến 6 tháng. Và thời hạn mở phiên tòa là từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

b, Thủ tục thuận tình ly hôn:

- Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú, làm việc của một trong hai bên.

- Thời gian giải quyết:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

3. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

- Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

- Con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con.

4. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

- Trong trường hợp cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

- Trong trường hợp có căn cứ khi người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện, thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

+ Người thân thích;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

5. Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Quý khách có thể dựa vào nội dung tư vấn trên đây để trả lời câu hỏi của mình. Luật Minh Khuê xin trả lời một số câu hỏi có nội dung riêng biệt như sau:

Thưa luật sư, xin cho em hỏi trường hợp của em là: vào năm 2005 em có đăng ký kết hôn với người nước ngoài rồi chồng em bảo lãnh em đi mà em không đi nên giận em không ngó ngàn tới em nữa. khoản 7 năm sau thì em lấy chồng khác vẫn đăng ký kết hôn lần nữa mà chưa ly hôn người đầu tiên, em vẫn làm giấy kết hôn thêm lần nữa.nay gia đình em muốn bảo lãnh em đi qua nước ngoài vậy cho hỏi em có thể nộp đơn để người nhà bảo lãnh chồng và con em luôn được không,em có cần ly dị với người chồng đầu tiên không, cách ly dị như thế nào.

=> Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;


d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;…”

Do đó, trong trường hợp bạn và chồng bạn chưa ly hôn nhưng bạn đã có hành vi kết hôn với người khác nên bạn đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì thế bạn sẽ bị xử phạt hành chính như sau:

Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;


e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng."

Sau đó bạn có thể nộp đơn ly hôn ra tòa án theo thủ tục pháp luật quy định

- Nếu bị đơn (người bị kiện) là chồng bạn có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết;

- Nếu bị đơn (người bị kiện) không có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi nguyên đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết.

Một số vấn đề cần lưu ý đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP :

"4. Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Tòa án Việt Nam không thể thực hiện được, cần phải yêu cầu cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Thưa luật sư, chị e có thay đổi giấy khai sinh cho cháu nhưng có quy định phải có cả chữ ký của bố đẻ và mẹ đẻ trong giấy khai sinh mà trước đó a chị đã ly hôn và a nhất quyết không ký vào giấy khai sinh lại cho cháu bé e muốn hỏi có cần chữ ký của bố đẻ trong giấy khai sinh không hay chỉ cần bố hoặc mẹ ký là được.

=> Theo Điều 27, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

d) Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

đ) Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

e) Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính;

g) Các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

2. Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

3. Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ”.

Do vậy, chị hoàn toàn có thể thay đổi họ tên cho con.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì "1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng."

Mặt khác, cháu bé hiện vẫn đang mang họ của người cha nên nếu muốn thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ thì về nguyên tắc phải có được sự đồng ý của cả cha và mẹ.

Trường hợp của bạn, mặc dù chị của bạn đã ly hôn và chồng cũ của chị không nuôi con nhưng việc này không làm ảnh hưởng đến quyền của người cha đối với đứa con chung. Do đó, nếu chồng cũ của chị không đồng ý với việc thay đổi họ cho con thì chị bạn không thể thay đổi họ tên của con .

Như vậy, chị bạn muốn thay đổi tên con cần phải có văn bản đồng ý của chồng.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn về làm thế nào để được đòi tài sản khi ly hôn ?

Kính thưa luật sư, Tôi có nhu cầu tư vấn về luật hôn nhân , ly dị phân chia tài sản và quyền cấp dưỡng nuôi con. Tôi xin kể sơ qua sự việc của gia đình tôi , tôi là vk có quốc tịch Canada chồng tôi cũng vậy nhưng đã xin hồi hương 2 năm trước tôi thì không có hồi hương tụi tôi qua định cư ở Canada năm 85, 86 kết hôn năm 91 có 2 con 1 gái 22 tuổi và 1 trai 13 tuổi.
Tụi tôi đi làm góp vốn mở được 1 tiệm vàng trong siêu thị hoạt động từ năm 96-07 lúc đầu chuyện kinh doanh tiệm vàng này là do tôi sang lại từ người chị chồng vì họ bị thua lỗ nhiều quá nên nhờ tôi giúp đở lúc đó chồng tui không đồng ý vì tôi đang mang thai đc 5 tháng công việc làm và kinh tế rất ổn định nhưng tôi thấy tội cho họ vì mỗi bữa cơm và tối họ đều khóc năn nỉ tôi ra nhận để thanh toán giùm khoản nợ họ đang bị chủ nợ vây.cầ Tôi cầm lòng không được nên hứa sang lại cửa tiệm đó tôi đã thế chấp nhà, xe , rút hết tiền tài khoản và tiền hưu trí để trả số nợ cho những chủ nợ họ thiếu mặc dù họ chưa sang tên cho tôi vì tôi nghĩ là người nhà không ai gạt mình nhưng khi ra vp luật sư làm giấy sang tên, làm giấy phép kd ,giấy phép thành lập cty lập hợp đồng thuê mặt bằng chồng tôi chỉ đi 1 mình với chị chồng tôi nhưng không hề cho tôi biết. Khoảng vài tháng sau khi tiền tôii châm vô trả nợ đã hết tôi cần biết trong tk có bao nhiêu để hứa chi trả cho các chủ nợ thì mới biết là tất cả đã sang tên cho chồng tôi và tui không đc quyền biết thông tin trừ khi chồng tôi tới ký giấy cho điều kiện đó.
Tôi có hỏi thì ổng diện lý là vì tôi bận đi làm nên không thể tới trong giờ làm việc của vp luật sư và khôngcần thiết vì nó đều là ts chung vì chúng tui có hôn thú lúc đó tôi còn đang đi làm công cho 2 cty trong thời gian hoạt động kinh doanh này chỉ có tên 1 mình chồng tôi đứng tên giấy phép kinh doanh sau vài chuyến trở về thăm gđ ở VN chồng tui có ý định đi về VN thành lập xưởng chế tác vàng bạc gia công để nhập vào Canada bỏ sỹ tôi không đồng ý vì sợ vợ chồng phải xa cách vì hoàn cảnh tôi lúc đó không thể về VN sinh sống đc. ( mẹ tôi bị tai biến và con gái tui 10t con trai tôi mới sanh trong thời gian năm 01-02 chồng tôi âm thầm chuyển tiền vào VN cho người cháu cất giữ không hề nói cho tôi biết và tuôi cũng không nắm đc là bao nhiêu vì chồng tui không bao giờ cho tôi biết số vốn và tiền trong tài khoản ngân hàng của tiệm vàng đó. Chồng tôi âm thầm cất dấu và chuyển tiền về bằng đường chui để thành lập cơ sở chế tác vàng bạc gia công và cũng nhập chui về Canada bán. khi tôi bt đc chuyện này tôi rất buồn nhưng thương mẹ và con tôi kô thể ly hôn chỉ biết dấu nổi đau lòng khuyên chồng nên làm ăn chính đáng nếu thấy không có lợi nhuận thì nghĩ đừng làm chuyện phạm pháp. Chồng tui không nghe .Cho tới khi chồng tui bị hải quan Canada bắt phạt thì chồng tôi mới thay đổi. cơ sở hoạt động đc 6 năm thì anh chồng tôi xin hùn chồng tui đồng ý nhưng không cho tôi bt và cty này vẫn còn đang hoạt động tới ngày nay số vốn của cty này là của chồng tôi chuyển từ canada bằng tiền từ tiệm nữ trang bên Canada là tài sản chung của vợ chồng tôi .Khoảng mấy năm gần đây chồng tui thường ở vn nhiều hơn khoảng 10 tháng/1năm khoảng tháng 9 năm 2014 tôi về vn để sống gần chồng những tưởng chồng tôi sẽ vui (vì mỗi lần về nhà chồng tôi thường than ở VN ổng rất buồn và nhớ gđ ổng rất vui khi đc ở gần vợ con) nào ngờ khi gặp tui Chồng tui trở thành một người xa lạ với tôi đuổi tôi ra khỏi cty tôi phải nhờ mẹ chồng và con tôi gọi đt về can thiệp chồng tôi mới để tôi ở lại trong cty. Vì ổng bao 1 nv nữ và để cô này sống tại cty có phòng riêng nên họ đã sống với nhau như vc tất cả nv , bảo vệ , tap vụ và người có nhà ở kế bên cty đều bt chuyện này. Người ta sợ mất việc nên không dám nói nhưng thấy ổng đối xử với tôi như vậy họ đều khuyên tui đừng buồn ông sẽ bị quả báo.
Dù bt việc này nhưng tui chỉ nói không có gì đâu tại bị áp lực của cv nên chồng tui bị stress. Vì chồng tuôi làm việc và sinh sống ở xưởng chưa xây nhà riêng vì ông chờ khi ly dị xong mới xây và nhập xe lesux đó là những hứa hẹn họ tâm sự với nhau .Đã mấy lần sau khi nc đt với họ xong chồng tui đánh ,đá tôi trong cty sau giờ lv ,dùng những lời lẽ rất xấu để chửi đuổi tôi và bêu xấu tôi với nv trong cty để họ khinh thường tôi cho tôi nản lòng mà về lại Canada .tôi đã có ý muốn bỏ đi ngay từ lần bạo lực đầu tiên nhưng má chồng và con tôi khuyên tui nên nhẫn nhịn và tha thứ để gđ không bị tan rã nhưng đã gần 2 năm tôi chỉ lủi thủi lo chăm sóc cho chồng mà không hề có đc 1 lời khen hay lời nói ngọt ngào từ chồng mà chỉ toàn nghe những câu nói bà ly dị đi đừng phí thời gian nửa vì bà sẽ không chia đc 1 thứ gì của tôi đâu. Vì chồng tui đã tư vấn với 3 ls về cách làm gì như thế nào thì kôhông phải chia ts khi ly dị .Câu này tôi đều nghe lập lại mỗi tuần. Tôi có nói đc nếu ly dị ông chia ts làm đôi tôi sẽ ký ổng nói tôi bị khùng ổng không có ngu tài sản này là của ổng tạo ra ổng muốn làm gì là quyền của ổng. Tôi nói 2 đứa nhỏ cũng của ổng tạo ra vậy chia cho 2 đúa nhỏ đi ổng kêu tôi đi chết đi tôi muốn hỏi đối với hoàn cảnh tôi thì nộp đơn xin ly hôn ở VN hay ở Canada ? Thủ tục giấy tờ tôi cần có những gì ? Chi phí và thời gian bao lâu? Tôi có cần ở VN suốt tg làm thủ tục không ? Chồng tôi không muốn chia ts cho tôi và 2 con. Ở bên Canada ổng còn 1 cty và mấy tk ngân hàng nhưng cũng đã chỉnh sửa lại rồi . Từ trước tới giờ tất cả gì về tiền bạc và vật chất ổng đều nắm hết nên tôi không bt ổng có bao nhiêu. vì đụng tới ts ổng sẽ giết tôi chớ không chia cho mẹ con tôi đâu . Cách đây 3 năm chồng tôi nhờ tui gởi mail cho đối tác bằng tiếng anh vì chồng tui kô rành tiếng anh lắm tôi vô tình thấy đc những tn yêu đương, trách móc ghen tuông của mấy nhân viên nữ trong cty. Vì tôi tôn trọng và tin tưởng chồng tôi nên không bao giờ tui lục xét hay xem đt của chồng tôi. Vì ổng thường hay chỉ trích chê bai những người đàn ông vô lương tâm đánh đập, lường gạt vợ con. Khi tôi hỏi thì ổng nói ở VN họ hay nt vô đt phá chơi vậy chớ không có chuyện gì hết và ổng thề những lời rất độc .Ông còn nói nếu tôi kôhông tin thì cứ thuê người theo dõi ông nếu có bc ổng ngoại tình hay ăn ngủ với ai ổng sẽ giao hết ts lại cho tôi.Nhưng khi tôi có đc bằng chứng tôi không làm ầm ỹ cũng không hâm dọa gì ai chỉ bt khóc và năn nỉ ổng đừng qua lại và đừng đem tiền bao cho họ nửa hãy nghĩ tới con mà sống trong sạch để con mình không bị xấu hổ và đừng vu oan nói xấu tôi nửa vì những gì tui đang chịu đựng là vì hp của 2 con và lời hứa với người mẹ quá cố và mẹ chồng.Ông bt không thể chối cãi nửa thì hâm sẽ thưa tôi nếu tôi đưa những bc ổng ngoại tình và mua dâm vì tội xâm phạm đời tư của ông. Tui chưa hề đưa hay kể cho ai bt ngoài ông vì ông cứ chối kể cả những người con gái kia tui chưa 1 lần nói gì xúc phạm họ mà họ vẫn kêu tôi là bà điên còn khiêu khích xúi chồng tui không cấp dưỡng và phải ly dị tôi đễ tôi không còn cản trở họ nửa. Đã gần 2 năm rồi chồng tui không đưa tiền chi phí tiêu dùng trong nhà như từ xưa tới giờ. 2 năm nay vì nghe lời mẹ chồng và 2 con tôi sống như 1 osin kôhông lương mà còn bị chửi rủa và lạm dụng tình dục.Mọi chi tiêu của tui 2 năm nay là từ tiền tài khoản của tôi từ trước. Xin hỏi luật sư như vậy tui có phạm tội xâm phạm đời tư như ổng nói không? Như vậy thì việc chia tài sản sẽ đc xử lý như thế nào và tôi nên nộp đơn ly hôn hay đợi ổng nộp đơn ? Vì ông đã liên hệ với luật sư ly hôn đơn phương , nhưng mỗi lần tui gợi ý ly hôn thì ông nói bà là người làm khổ 2 đứa con nếu bà ly dị .Tôi không bt ý ổng muốn gì mà nói và hành động như vậy .
Nếu có bằng chứng về ngoại tình dẫn đến tình trạng ly hôn sẽ ảnh hưởng thế nào đến việc phán quyết của tòa không?
Xin lỗi vì tôi kể quá dài dòng. Tôi cảm ơn luật sư rất nhiều !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi cho bạn chúng tôi nghĩ bạn nên nộp đơn ra tòa để được ly hôn mà không cần đợi chòng bạn nộp. Vì chưa chắc ông ý đã nộp đơn, vì nếu nộp đơn thì ông ý sẽ phải chia đôi tài sản chung nên ông ý sẽ chăc không nộp đơn. Vì chồng của bạn đã về Việt Nam nên bạn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn chia tài sản ở tòa án Việt Nam. Vì đây là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, mặc dù trước đây bạn cũng là người có quốc tịch VN, nhưng bây giờ bạn đã cư trú ở Canada và chồng bạn đã trở về Việt Nam, nên nếu bạn khởi kiện thì bạn có thể gửi đơn đến tòa án Việt Nam và tòa án VN có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn của bạn.

Theo Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005:

Điều 758. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

Và khoản 2 Điều 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 27 Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

Và bạn phải gửi đơn đên tòa án nhân dân Tỉnh nơi chồng bạn đang cư trú theo quy định tai kHoản 3 Điều 33 bộ luật tố tụng dân sự

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Khi bạn gửi đơn đến tòa án Việt Nam thì Tòa án Việt Nam sẽ ap dụng quy định của Điều ước quốc tế trước, nếu Điều ước quốc tế không quy định thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam

Điều 759. áp dụng pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế

1. Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.

2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Nếu có bằng chứng về ngoại tình dẫn đến tình trạng ly hôn sẽ ảnh hưởng thế nào đến việc phán quyết của tòa không?

Nếu có bằng chứng ngoại tình và bằng chứng ông ý đã đánh đập lăng mạ bạn thì đây là bằng chứng để bạn có quyền yêu cầu đơn phương ly hôn và tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho bạn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Sau khi có quyết định ly hôn thì tòa cũng sẽ đứng ra chia tài sản nếu bạn có yêu cầu và tài sản của vợ chồng sẽ được chia đôi, tuy nhiên vẫn có tính đến các yếu tố khác

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Bạn nói hầu hết tài sản của vợ chồng bạn đều đúng tên của ông ta, thậm chí ông ta còn sử dụng tài khoản ngân hàng của bạn mà không được bạn đồng ý để thành lập công ty mang tên mình. Trong trường hợp này bạn cũng yên tâm vì dù nếu có đứng tên ông ta thì ông ta vẫn phải chia cho bạn một nữa trừ trường hợp ông ta chứng minh được số tài sản đó là do tự tây ông ta làm ra bằng tiền của riêng ông ta không phải là tài sản chung của vợ chồng. Theo quy dịnh tại khoản 4 Điều 59

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Còn về tài sản của chồng bạn bên Ca nada thì theo quy định tại Điều 127 Luật hôn nhân gia đình

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

.3 Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó

Như vậy thì tất cả các tài sản là động sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật. còn các tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn thì sẽ tuân theo pháp luật nước ngoài

Còn về việc bạn hỏi việc bạn xem thư tín, email của chồng bạn có được xem là xâm phạm bí mất đời tư không thì

theo quy định tại Điều 38 Luật dân sự và Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự năm 2013

Điều 38. Quyền bí mật đời tư

1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Mặc dù hành vi của bạn là xem thư tín của chồng bạn là không đúng tuy nhiên bạn cũng không có làm bất kỳ việc gì ảnh hưởng đến anh ta hay đe dọa anh ta, nhưng bạn vẫn vi phạm nên trường hợp này nếu anh ta kiện bạn thì tòa sẽ sử lý theo quy định của pháp luật, có tính đến việc đây là chứng cứ để bạn yêu cầu ly hôn đơn phương vì anh ta ngoại tình

Khoản 1 Điều 125 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Điều 125. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác

1. Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

Mặc dù bạn đã xâm phạm bí mật thư tín của anh ta tuy nhiên bạn vẫn chưa thuộc vào trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 125 nên bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Thẩm quyền giải quyết ly hôn của Toà án và Mức án phí ?

Thưa Luật sư, em và chồng em đã ly thân và em muốn ly hôn đơn phương vậy phải nộp đơn xin ly hôn sở Toà án nào và án phí là bao nhiêu?
Cảm ơn luật sư rất nhiều.

Thẩm quyền giải quyết ly hôn của Toà án và án phí mới nhất ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương của Toà án nhân dân.

Căn cứ theo Điều 35, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

Và Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ, căn cứ theo điều 39, bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 39.Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ:

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết

>> Vậy ly hôn đơn phương thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân cấp huyện nơi cư trú, làm việc của bị đơn.

2. Án phí đối với trường hợp ly hôn đơn phương.

Mức án phí ly hôn theo luật mới, cụ thể là Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 có quy định:

II

Án phí dân sự

1

Án phí dân sự sơ thẩm

1.1

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

300.000 đồng

1.2

Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại không có giá ngạch

3.000.000 đồng

1.3

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000. 000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

>> Vậy, đối với trường hợp ly hôn đơn phương thì mức án phí dân sự sơ thẩm sẽ là 300.000 đồng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Tham khảo bài viết về hôn nhân và gia đình sau: Đơn ly hôn thuận tình viết như thế nào để được Toà án chấp nhận

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Phải ly thân bao nhiêu năm mới được ly hôn ?

Thưa Luật sư, hai vợ chồng tôi đã đăng ký kết hôn được hai năm, kết hôn theo đúng quy định của Pháp luật, nhưng do hai vợ chồng không hòa hợp, mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, nên chúng tôi đã ly thân được hai tháng, hiện nay hai vợ chồng tôi muốn ly hôn, nhưng hai vợ chồng tôi không biết phải ly thân bao nhiêu năm thì mới được ly hôn?
Mong Luật su tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư.

Theo quy định mới, phải ly thân bao nhiêu năm mới được ly hôn?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như bạn có trình bày ở trên thì hai bạn đã đăng ký kết hôn được hai năm và theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Kết hôn dựa trên theo đúng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng theo quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể như sau:

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.
4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Như bạn có trình bày là hai vợ chồng bạn đã đăng ký kết hôn được 2 năm và ly thân được 2 tháng vì mâu thuẫn với nhau, bất đồng quan điểm và không có tiếng nói chung, nhưng hiện tại khi hai bạn về chung sống, cuộc sống gia đình không được tốt đẹp như hai vợ chồng bạn mong đợi nên hai vợ chồng bạn muốn ly hôn.
Về vấn đề này, hai vợ chồng bạn đều có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định cụ thể như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Có hai hình thức ly hôn: thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên

Điều 55. Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy có nghĩa là, trong quy định của Pháp luật hiện hành, chưa có bất kỳ một quy định nào về việc phải ly thân với nhau bao lâu thì mới được ly hôn, hai bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu tòa án cho ly hôn, nếu hai bạn thật sự tự nguyện ly hôn, hai bạn sẽ ly hôn thuận tình, nếu một trong hai bên muốn ly hôn thì phải đưa ra được những căn cứ, và đồng thời, Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Chia tài sản khi ly hôn liên quan đến vay ngân hàng ?

Xin chào luật sư, hiện tại tôi và vợ tôi đang trong quá trình ly thân được 2 năm và chuẩn bị ly hôn do mâu thuẩn gia đình nên không thể hàn gắn và chung sống với nhau được.
Tôi có một căn hộ đã có sổ hồng đứng tên 2 vợ chồng, đây là tài sản do tôi mua trả góp (50%) và nhờ chị vợ vay giúp (30%) khoảng 400 triệu và (20%) là vốn tự có. Do cuộc sống không được như mong muốn nên giờ chị vợ tôi yêu cầu phải hoàn trả số tiền đã vay giúp tôi là 400 triệu, tất cả khoản trên đều do mình tôi chi trả từ trước đến nay và theo thỏa thuận thì tài sản đó thuộc về tôi. Do vậy, tôi có 3 hướng giải quyết vấn đề như sau:
1. thế chấp căn hộ để vay 400 triệu trả nợ nhưng vợ tôi lại không muốn có trách nhiệm trả nợ vì không có ở đó => Vậy trong trường hợp này tôi làm giấy từ chối nhận tài sản cho vợ tôi ký có được không ? Tôi có trách nhiệm trả nợ ngân hàng
2. Điều chỉnh tên chủ sở hữu trên sổ hồng chỉ còn lại mình tôi để sau đó làm thủ tục vay và trả nợ ngân hàng => thủ tục thực hiện và thời gian cấp sổ mới
3. Thực hiện thủ tục ly hôn xong mới thực hiện thủ tục vay => thủ tục thực hiện và thời gian giải quyết vì tôi đang bị buộc trả nợ gấp nhờ luật sư tư vấn giúp tôi để chọn được phương án tốt nhất ?
Xin chân thành cảm ơn, kính chào.

Chia tài sản khi ly hôn liên quan đến vay ngân hàng ?

Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13 quy định như sau:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chungphải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồngtheo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Như vậy, việc chia tài sản chung của anh chị là do thỏa thuận. Nếu tài sản là quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng mà giờ ly hôn, vợ lấy 400 triệu thì phải làm văn bản phân chia tài sản trước.
Sau đó anh đi đổi sổ đỏ sang tên anh để thế chấp vay vốn:
* Trình tự, thủ tục:
- Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được qui định như sau
+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa khi cần thiết; lấy ý kiến xác nhận của UBND phường về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất. Trường hợp người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì lấy ý kiến của UBND phường về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất, sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.
+Danh sách các trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được công bố công khai tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong thời gian 15 ngày. Văn phòng này cũng phải xem xét các ý kiến đóng góp đối với các trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xác nhận vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với những trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ghi ý kiến đối với trường hợp không đủ điều kiệ
+ Trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo qui định của pháp luật; gửi hồ sơ những trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính đến phòng tài nguyên và môi trường.
- Tiếp theo là phòng tài nguyên và môi trường có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trình UBND cùng cấp quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất.
- Thời gian: Thời gian thực hiện các công việc quy định tại hai giai đoạn trên không quá 55 ngày làm việc (không kể thời gian công bố công khai danh sách các trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thời gian người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính) kể từ ngày văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho tới ngày người sử dụng đất nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
*Thực hiện thủ tục ly hôn:

*Thủ tục thuận tình ly hôn

Điều kiện tiến hành thủ tục thuận tình ly hôn

- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn.

- Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

- Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Lưu ý: Trường hợp các bên chỉ tranh chấp một trong các vấn đề về tài sản, nuôi con, tình cảm hoặc tuy có thoả thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp theo thủ tục chung.

Thủ tục thuận tình ly hôn

Bước 1: Nộp hồ sơ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tại TAND cấp quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng.

Lưu ý: trong trường hợp vợ hoặc chồng ở nước ngoài thì nộp đơn tại TAND cấp tỉnh.

Bước 2: Sau khi nhận đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng lệ phí Toà án cho người đã nộp đơn.

Bước 3: Căn cứ thông báo của Toà án, đương sự nộp tiền tạm ứng lệ phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai nộp tiền cho Tòa án.

Lưu ý: Nếu TAND cấp tỉnh giải quyết thì nộp tại Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh.

Bước 4: Tòa án mở phiên họp công khai để giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.

Lưu ý: Phiên họp này phải có sự tham dự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cung cấp với Toà án thụ lý giải quyết.

Bước 5: Toà án ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn.

Lưu ý: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay.

Thời gian giải quyết ly hôn thuận tình: Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện nay không quy định cụ thể thời hạn giải quyết đối với “việc dân sự” yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (Nhưng thực tế thời gian này sẽ nhanh hơn so với thời gian giải quyết vụ án đơn phương xin ly hôn).

Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

*Thủ tục đơn phương ly hôn

Trình tự xin ly hôn đơn phương

Bước 1: Vợ hoặc chồng (nguyên đơn) nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND cấp quận/huyện nơi bị đơn (chồng hoặc vợ) đang cư trú, làm việc.

Lưu ý: Nếu vợ/chồng hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài thì phải nộp đơn tại TAND cấp tỉnh.

Bước 2: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vụ án và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp đơn.

Lưu ý: Trong thực tế thời gian này thường lâu hơn.

Bước 3: Căn cứ thông báo của Toà án, đương sự nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.

Lưu ý: Nếu TAND cấp tỉnh giải quyết thì nộp tại Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh.

Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc Quyết định giải quyết vụ án.

Thời gian giải quyết việc ly hôn đơn phương

Thời hạn chuẩn bị xét xử: 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Lưu ý, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì thời gian có thể lâu hơn. (xem: Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương);

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?