Trả lời:

Theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015 về thừa kế thế vị thì:

“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưông phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

Ví dụ: Cụ Đ có khối di sản để lại trị giá là 900 triệu đồng, cụ Đ có vợ là cụ B, vợ chồng cụ Đ - B có các con chung là ông T và ông N. Ông T có con là anh s và anh K; Ông N có con là chị A và chị A có con là Ng. Ông T chết trước cụ Đ, ông N và chị A chết cùng thời điểm với cụ Đ. Cụ Đ chết không để lại di chúc. Nếu có người yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đông thì vụ việc sẽ được giải quyết như sau:

Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ là cụ B, ông T và ông N nhưng ông T chết trước cụ Đ nên anh s, anh K thay ông T để hưởng di sản của cụ Đ, đồng thời ông N và chị A đều chết cùng thời điểm với cụ Đ nên Ng thay chị A để hưởng di sản của cụ Đ. Cụ thể: 900 triệu đồng: 3 = 300 triệu đồng (cụ B - ông T = chị A). Trong đó, anh K, anh s thế vị hưởng phần của ông T (300:2 = 150 triệu đồng). Ng thế vị hưởng phần của chị A = 300 triệu đồng.

Pháp luật dân sự không nêu khái niệm về thừa kế chuyển tiếp. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu thừa kế chuyển tiếp theo hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là chuyển tiếp về di sản và nghĩa thứ hai là chuyển tiếp quyền thừa kế giữa các hàng thừa kế.

Thừa kế chuyển tiếp theo nghĩa thứ nhất là trường hợp người chết để lại di sản nhưng chưa được chia cho các đồng thừa kế, sau đó một trong số các đồng thừa kế của người này cũng bị chết thì di sản của người chết sau bao gồm cả phần di sản mà người này được hưởng (nhưng chưa chia) trong khối di sản của người chết trước.

Ví dụ: Ông A và bà B có 03 người con chung gồm: anh Ch, chị D và chị E. Ông A chết năm 1967, bà B chết năm 1996. Ông A, bà B chết đều không để lại di chúc. Khi còn sống, ông A và bà B có tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất thổ cư diện tích 200m2 tại thành phố H và căn nhà cấp 4 trên đất. Sau khi ông A, bà B chết, anh Ch tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất của cha mẹ. Năm 2000, anh Ch phá nhà cấp 4 để xây dựng căn nhà 03 tầng kiên cố trên diện tích 100m2 đất. Năm 2005, anh Ch chết, không để lại di chúc, anh Ch có vợ và 02 người con. Năm 2017, các người con của anh Ch yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế của anh Ch.

Vì ông A, bà B và anh Ch chết đều không để lại di chúc, nên di sản của những người này đều được chia theo pháp luật.

Anh Ch, chị D và chị E đều chết sau ông A, bà B.

Do vậy, trường hợp này di sản của anh Ch gồm có: 14 giá trị căn nhà 03 tầng (do vợ chồng anh Ch tạo lập) và 14 diện tích thửa đất 200m2 tại thành phố H (phần di sản được hưởng từ ông A, bà B). Toàn bộ khối di sản này được chia cho 03 người thừa kế của anh Ch là vợ và 02 người con của anh Ch.

Như vậy, thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp loại này có những điểm khác biệt căn bản sau:

Một là, trong thừa kế thế vị, con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (cháu được thừa kế thế vị); cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (chắt được thừa kế thế vị). Ngược lại, đối với thừa kế chuyển tiếp thì con của người để lại di sản chết sau người để lại di sản, nhưng di sản của người chết trước chưa được chia.

Hai là, những người thừa kế thế vị phải là người có quan hệ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và người thế vị luôn ở vị trí đời sau, tức là chỉ có con thế vị cha, mẹ để hưởng di sản của ông bà hoặc các cụ chứ không xảy ra trường hợp cha, mẹ thế vị con để hưởng di sản của ông bà hoặc các cụ. Ngược lại, đối với thừa kế chuyển tiếp thì di sản của cha hoặc mẹ (chết trước) được chia và nhập chung vào khối di sản của người con (chết sau) và khối di sản này được chia bình thường theo quy định của pháp luật, không giới hạn người được hưởng thừa kế.

Ba là, trong thừa kế thế vị, giữa những người thừa kế phải có quan hệ huyết thống về trực hệ (chỉ có con đẻ thay thế vị trí của cha, mẹ đẻ). Trong khi đó, người thuộc diện được thừa kế chuyển tiếp có thể là con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng của người để lại di sản (có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc).

Thừa kế thế vị theo nghĩa thứ hai: là trường hợp chuyển tiếp quyền thừa kế giữa các hàng thừa kế, tức là trường hợp những người ở hàng thừa kế trước đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Khi đó những người ở hàng thừa kế tiếp theo sẽ được hưởng di sản thừa kế (khoản 3 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)