- 1. Thừa kế chuyển tiếp là gì?
- Thừa kế chuyển tiếp về di sản khi người thừa kế chết sau người để lại di sản
- Trường hợp hàng thừa kế tiếp theo được hưởng di sản
- 2. Thừa kế thế vị là gì?
- Cách xác định phần di sản được hưởng theo thừa kế thế vị?
- 4. Phân biệt thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị?
- Ví dụ phân biệt thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị
- 5. Cách xác định quyền hưởng di sản khi có nhiều người chết ở các thời điểm khác nhau
- 6. Câu hỏi thường gặp về thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị?
- Người thừa kế chết sau khi cha mẹ mất nhưng chưa chia di sản thì con của họ có được hưởng không?
- Cháu có được hưởng thừa kế thế vị nếu cha hoặc mẹ chết sau ông bà không?
- Thừa kế thế vị có áp dụng khi người để lại di sản có di chúc không?
- Cháu có được hưởng di sản của cô, chú, bác khi cha mẹ đã mất không?
- Di sản thừa kế chưa chia trong nhiều năm có còn được yêu cầu phân chia không?
Thừa kế chuyển tiếp là trường hợp thường gặp khi người để lại di sản đã chết nhưng tài sản chưa được phân chia, sau đó một người thừa kế cũng qua đời. Khi đó, việc xác định ai được hưởng di sản và phần tài sản được hưởng như thế nào cần căn cứ vào thời điểm chết, quyền thừa kế của từng người và các quy định pháp luật liên quan.
Vậy thừa kế chuyển tiếp là gì, được áp dụng trong những trường hợp nào và khác gì với thừa kế thế vị theo Bộ luật Dân sự năm 2015? Luật Minh Khuê sẽ phân tích cụ thể trong bài viết dưới đây.
1. Thừa kế chuyển tiếp là gì?
Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về khái niệm thừa kế chuyển tiếp. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết thừa kế, thuật ngữ này thường được dùng để chỉ việc chuyển tiếp phần di sản hoặc quyền hưởng di sản khi có người thừa kế qua đời.
Có thể hiểu thừa kế chuyển tiếp qua hai trường hợp: chuyển tiếp về di sản khi người thừa kế chết sau người để lại di sản nhưng phần tài sản được hưởng chưa chia; và chuyển tiếp quyền hưởng di sản giữa các hàng thừa kế khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.
Để xác định quyền hưởng di sản trong từng trường hợp, cần căn cứ vào thời điểm mở thừa kế, tình trạng phân chia di sản, di chúc (nếu có) và quy định về hàng thừa kế tại Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong thực tiễn, thừa kế chuyển tiếp thường được đề cập dưới hai dạng: thừa kế chuyển tiếp về di sản và chuyển tiếp quyền hưởng di sản giữa các hàng thừa kế. Hai trường hợp này có cách xác định người hưởng và căn cứ phân chia khác nhau. Vì vậy, cần xem xét cụ thể thời điểm chết và quyền hưởng di sản của từng người để tránh nhầm lẫn với thừa kế thế vị.
Thừa kế chuyển tiếp về di sản khi người thừa kế chết sau người để lại di sản
Thừa kế chuyển tiếp về di sản xảy ra khi người để lại di sản đã chết, người thừa kế còn sống tại thời điểm mở thừa kế và có quyền hưởng di sản, nhưng sau đó người thừa kế cũng qua đời trước khi phần di sản được phân chia. Khi đó, phần di sản người này có quyền hưởng từ người chết trước được xem xét trong khối di sản của chính họ để tiếp tục giải quyết thừa kế.
Thời điểm mở thừa kế và quyền hưởng di sản
Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Điều 613 quy định người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống sau thời điểm đó.
Vì vậy, nếu người thừa kế còn sống tại thời điểm mở thừa kế và đáp ứng điều kiện hưởng di sản, quyền thừa kế của họ được xác định từ thời điểm này. Việc di sản chưa được chia không đồng nghĩa quyền hưởng di sản chưa phát sinh.
Khi người thừa kế chết sau người để lại di sản, để xác định và chia phần di sản cần thực hiện các bước sau:
- Xác định khối di sản của người chết trước và những người có quyền hưởng.
- Xác định phần di sản mà người chết sau có quyền được hưởng.
- Tính phần di sản này vào khối di sản của người chết sau để phân chia cho những người thừa kế của họ theo di chúc hợp pháp hoặc theo pháp luật.
- Xem xét các yếu tố liên quan như tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ tài sản và thời hiệu yêu cầu chia di sản.
Ví dụ: Ông A và bà B có ba người con là C, D và E. Ông A qua đời năm 2010, bà B qua đời năm 2015. Cả hai không để lại di chúc và nhà đất của vợ chồng chưa được phân chia. Đến năm 2020, C qua đời, để lại vợ và hai người con.
Trong trường hợp này, cần xác định phần di sản C có quyền hưởng từ ông A và bà B. Phần đó được xem xét trong khối di sản của C để chia cho những người thừa kế của C theo di chúc (nếu có di chúc hợp pháp) hoặc theo pháp luật. Vợ và hai người con của C không đương nhiên được hưởng toàn bộ nhà đất của ông A và bà B mà chỉ được hưởng phần thuộc di sản của C theo quy định.
Cần lưu ý, trường hợp này khác với thừa kế thế vị theo Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nếu C chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì mới xem xét điều kiện để con của C hưởng thế vị phần mà C đáng lẽ được hưởng.
Trường hợp hàng thừa kế tiếp theo được hưởng di sản
Theo khoản 3 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản khi không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Khi giải quyết, cần lần lượt xác định người thuộc từng hàng thừa kế và điều kiện hưởng di sản của họ. Chỉ khi đáp ứng điều kiện luật định mới chuyển sang xem xét hàng thừa kế tiếp theo.
Ví dụ: Ông A qua đời không để lại di chúc. Nếu không còn người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản, cần xem xét những người thuộc hàng thừa kế thứ hai. Nếu hàng thứ hai cũng không còn ai đủ điều kiện hưởng, mới xem xét hàng thừa kế thứ ba.
Không nên hiểu cứ người thuộc hàng thừa kế trước qua đời thì con của họ đương nhiên được nhận phần di sản đó. Nếu người con chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, cần xem xét thừa kế thế vị theo Điều 652. Nếu người thừa kế chết sau khi quyền hưởng di sản đã phát sinh, cần giải quyết phần di sản thuộc quyền của người này theo quy định tương ứng.
2. Thừa kế thế vị là gì?
Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.
Điều 652:
Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưông phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống
Như vậy, thừa kế thế vị là trường hợp cháu hoặc chắt thay thế vị trí của cha hoặc mẹ đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản để nhận phần di sản theo quy định pháp luật. Cơ chế này nhằm bảo đảm quyền hưởng di sản của nhánh gia đình có người con đã qua đời, khi đáp ứng đủ điều kiện luật định.
Để xác định một trường hợp có được áp dụng thừa kế thế vị hay không, cần xem xét các điều kiện sau:
Về thời điểm chết: Con của người để lại di sản phải chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Nếu người con chết sau người để lại di sản, cần xem xét việc phân chia phần di sản thuộc quyền của người đó, thay vì áp dụng thừa kế thế vị.
Về quan hệ giữa những người liên quan: Người thế vị phải thuộc nhánh con, cháu theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc xác định quan hệ cha mẹ – con cần căn cứ vào quy định pháp luật có liên quan.
Về hình thức thừa kế: Thừa kế thế vị được áp dụng trong trường hợp chia di sản theo pháp luật, không phải cơ chế thay thế người được chỉ định hưởng di sản theo di chúc.
Về người được thế vị: Người con đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản là người mà phần di sản được xác định theo cơ chế thế vị. Nếu người này không có con hoặc không có người thuộc nhánh được thế vị đủ điều kiện thì cần xác định cách chia di sản theo các quy định thừa kế tương ứng.
Cách xác định phần di sản được hưởng theo thừa kế thế vị?
Việc chia di sản theo thừa kế thế vị được thực hiện theo nguyên tắc xác định phần mà người được thế vị đáng lẽ được hưởng, sau đó xác định những người thuộc nhánh thế vị đủ điều kiện nhận phần đó.
Ví dụ: Ông A qua đời không để lại di chúc, có hai người con là B và C. B chết trước ông A và có hai người con là D và E. Còn C vẫn sống tại thời điểm ông A qua đời.
Giả sử di sản của ông A là 600 triệu đồng, không có yếu tố pháp lý nào khác ảnh hưởng đến việc chia và B, C là hai người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng nếu B còn sống. Khi đó:
- Phần của B nếu còn sống: 600 triệu đồng / 2 = 300 triệu đồng.
- D và E cùng hưởng phần 300 triệu đồng của B theo thừa kế thế vị.
- Mỗi người D và E được hưởng: 300 triệu đồng / 2 = 150 triệu đồng.
- C được hưởng 300 triệu đồng.
Như vậy, D và E không chia lại toàn bộ di sản của ông A mà chỉ nhận phần di sản thuộc nhánh của B theo cơ chế thừa kế thế vị.
Cần phân biệt trường hợp này với thừa kế chuyển tiếp về di sản đã trình bày ở mục trên: nếu B còn sống khi ông A qua đời, có quyền hưởng di sản nhưng sau đó mới chết, phần di sản B được hưởng sẽ được xem xét trong khối di sản của B để chia cho những người thừa kế của B.
4. Phân biệt thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị?
Thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị cả 2 đều liên quan đến việc xác định quyền hưởng di sản khi có người trong gia đình qua đời. Tuy nhiên, hai trường hợp này khác nhau về thời điểm chết, cơ chế xác định người hưởng và cách phân chia tài sản. Cụ thể:
|
Tiêu chí |
Thừa kế chuyển tiếp về di sản |
Thừa kế thế vị |
|
Thời điểm chết |
Người thừa kế chết sau người để lại di sản, khi phần di sản chưa được chia. |
Con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. |
|
Bản chất |
Phần di sản người chết sau có quyền hưởng được tính vào khối di sản của chính họ. |
Cháu hoặc chắt nhận phần di sản mà cha hoặc mẹ của mình đáng lẽ được hưởng. |
|
Người được hưởng |
Những người thừa kế của người chết sau, theo di chúc hoặc theo pháp luật. |
Cháu hoặc chắt thuộc trường hợp được quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015. |
|
Căn cứ xác định quyền hưởng |
Quyền thừa kế đã phát sinh của người chết sau và quy định về phân chia di sản của người này. |
Quy định về thừa kế thế vị tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015. |
|
Cách chia di sản |
Xác định phần người chết sau được hưởng từ người chết trước, sau đó xem xét phần này trong khối di sản của người chết sau. |
Xác định phần người được thế vị đáng lẽ được hưởng, sau đó chia phần đó cho những người thuộc nhánh thế vị đủ điều kiện. |
Ví dụ phân biệt thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị
Ông A có hai người con là B và C. B có hai người con là D và E. Giả sử ông A qua đời, không để lại di chúc và di sản được chia theo pháp luật.
Trường hợp 1: B chết trước ông A. Nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015, D và E được hưởng thừa kế thế vị phần di sản mà B đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Phần của B được xác định theo số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản, sau đó chia cho những người thuộc nhánh thế vị đủ điều kiện.
Trường hợp 2: B còn sống khi ông A qua đời nhưng chết sau đó, trước khi di sản được chia. Quyền hưởng di sản của B đã phát sinh tại thời điểm mở thừa kế của ông A. Phần di sản B có quyền hưởng được xem xét trong khối di sản của B và phân chia cho những người thừa kế của B theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Như vậy, nếu người thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, cần xem xét thừa kế thế vị; nếu người thừa kế chết sau khi quyền hưởng di sản đã phát sinh, cần xem xét việc phân chia phần di sản thuộc quyền của người đó. Việc xác định đúng thời điểm chết và quyền hưởng di sản là cơ sở để áp dụng quy định pháp luật phù hợp.
5. Cách xác định quyền hưởng di sản khi có nhiều người chết ở các thời điểm khác nhau
Để xác định đúng người được hưởng và phần di sản được nhận, cần thực hiện các bước sau:
Xác định thời điểm chết và quyền hưởng di sản: Kiểm tra thời điểm chết của từng người để phân biệt trường hợp thừa kế thế vị với trường hợp người thừa kế chết sau khi quyền hưởng di sản đã phát sinh. Đồng thời, xác định di sản của từng người, di chúc (nếu có) và những người có quyền hưởng.
Xác định cách chia di sản: Căn cứ vào tình huống cụ thể để áp dụng quy định phù hợp:
- Thừa kế thế vị: Áp dụng Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 khi đáp ứng đủ điều kiện.
- Thừa kế chuyển tiếp về di sản: Xác định phần di sản người chết sau có quyền hưởng, sau đó xem xét phần này trong khối di sản của họ.
- Hưởng theo hàng thừa kế tiếp theo: Áp dụng khoản 3 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 khi đáp ứng điều kiện luật định.
Chuẩn bị hồ sơ phân chia di sản: Chuẩn bị giấy chứng tử, giấy tờ chứng minh quan hệ gia đình, di chúc (nếu có) và giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất. Nếu có tranh chấp về người hưởng hoặc phần di sản, cần xem xét hồ sơ và tình tiết cụ thể để xác định phương án giải quyết phù hợp.
6. Câu hỏi thường gặp về thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị?
Người thừa kế chết sau khi cha mẹ mất nhưng chưa chia di sản thì con của họ có được hưởng không?
Có thể được hưởng. Nếu người con còn sống tại thời điểm cha mẹ qua đời và có quyền hưởng di sản, phần di sản người này được hưởng sẽ được xem xét trong khối di sản của họ khi họ qua đời. Con của người này có thể được hưởng phần di sản đó nếu thuộc diện thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật và đáp ứng các điều kiện liên quan.
Cháu có được hưởng thừa kế thế vị nếu cha hoặc mẹ chết sau ông bà không?
Không áp dụng thừa kế thế vị trong trường hợp cha hoặc mẹ chết sau ông bà. Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế thế vị được xem xét khi con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Nếu cha hoặc mẹ chết sau ông bà, cần xác định phần di sản người đó có quyền hưởng để giải quyết thừa kế trong khối di sản của họ.
Thừa kế thế vị có áp dụng khi người để lại di sản có di chúc không?
Thừa kế thế vị được áp dụng khi chia di sản theo pháp luật, không phải cơ chế thay thế người được chỉ định hưởng di sản trong di chúc. Nếu người để lại di sản có di chúc, cần xác định hiệu lực của di chúc và phần di sản được chia theo pháp luật, nếu có, trước khi xem xét điều kiện áp dụng Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Cháu có được hưởng di sản của cô, chú, bác khi cha mẹ đã mất không?
Theo quy định về thừa kế theo pháp luật, cháu ruột không mặc nhiên thế vị cha hoặc mẹ để nhận di sản của cô, chú, bác. Cần xác định hàng thừa kế, thời điểm chết của từng người và căn cứ pháp lý cụ thể. Nếu không có người ở hàng thừa kế trước đủ điều kiện hưởng, mới xem xét hàng thừa kế tiếp theo theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Di sản thừa kế chưa chia trong nhiều năm có còn được yêu cầu phân chia không?
Có thể, nhưng cần kiểm tra thời hiệu thừa kế theo Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quy định chung, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu và khả năng yêu cầu giải quyết còn phụ thuộc vào loại tài sản, thời điểm mở thừa kế và tình tiết cụ thể của vụ việc.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý thêm về di chúc, phân chia và mức hưởng di sản thừa kế bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế gọi số 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.