1. Thừa kế cổ phần cha mất để lại cần thủ tục gì ?

Thưa luật sư, bố tôi mất để lại cổ phần ở một công ty. Gia đình tôi còn mẹ tôi, 2 anh trai và tôi, bây giờ theo ý kiến của cả gia đình chuyển toàn bộ cổ phần ở công ty đó cho tôi. Vậy tôi không cần làm những thủ tục gì?

Xin cảm ơn!

Người gửi: Nguyen Cuong

Thừa kế cổ phần cha mất để lại cần thủ tục gì?

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Thông tin bạn trình bày không nêu rõ ba bạn mất có để lại di chúc hay không ,nên chúng tôi chia làm 2 trường hợp:

- Ba bạn mất có để lại di chúc thì số cổ phần đó được chia theo di chúc. Người thừa kế theo di chúc sẽ là cổ đông của công ty.

- Ba bạn mất không để lại di chúc thì số cổ phần đó được chia theo pháp luật.

Điều 676, Bộ luật dân sự 2005 quy định về những người thừa kế theo pháp luật bao gồm:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, số cổ phần đó sẽ được chia làm 4 phần, mẹ, 2 anh trai và bạn mỗi người một phần bằng nhau.

Điều 126 Luật doanh nghiệp 2005 quy định về trường hợp chuyển nhượng cổ phần như sau:

"3. Trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó là cổ đông của công ty.

4. Trường hợp cổ phần của cổ đông là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự."

Thủ tục khai nhận thừa kế, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được thực hiện tại tổ chức công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng. Người thừa kế phải thông báo với công ty về việc hưởng thừa kế số cổ phần của cổ đông đã chết để trở thành cổ đông của công ty.

Mẹ bạn và 2 anh trai muốn chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của công ty sang cho bạn là việc làm được pháp luật cho phép. Cụ thể tại điều 126, khoản 5 Luật doanh nghiệp 2014 :

"5. Cổ đông có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần của mình tại công ty cho người khác; sử dụng cổ phần để trả nợ. Trường hợp này, người được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ là cổ đông của công ty.".

Công ty theo đó sẽ phải thực hiện thay đổi đăng ký kinh doanh theo Điều 32 Luật doanh nghiệp 2014 theo đó:

"1. Doanh nghiệp phải thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh khi thay đổi về một trong những nội dung sau đây:

a) Thay đổi ngành, nghề kinh doanh;

b) Thay đổi cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp đối với công ty niêm yết;

c) Thay đổi những nội dung khác trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.

2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi. [...]

4. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Trường hợp từ chối bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thì thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do; các yêu cầu sửa đổi, bổ sung (nếu có).

5. Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:

a) Người đề nghị đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp gửi Thông báo đăng ký thay đổi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực thi hành. Kèm theo thông báo, phải có bản sao bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực thi hành;

b) Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo nội dung bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực thi hành trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Trường hợp từ chối bổ sung, sửa đổi thông tin theo nội dung thông báo thay đổi đăng ký doanh nghiệp thì thông báo bằng văn bản cho người đề nghị đăng ký thay đổi biết.Thông báo phải nêu rõ lý do; các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ (nếu có)."

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Tư vấn mở thừa kế thực hiện nghĩa vụ nợ ?

Chào luật sư Minh Khuê! Tôi có một việc xin được tư vấn. Chồng tôi mất đột ngột để lại một khoản nợ thế chấp trong ngân hàng là 2 mảnh đất. Tôi muốn bán một mảnh để trả nợ ngân hàng, nhưng khi mở thừa kế để giải quyết nợ thì phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nhưng tôi không có tiền trả ngân hàng để lấy giấy ra mở thừa kế. Tôi còn cách nào khác không ạ ?
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005 về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại quy định:
“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.

3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”

Theo khoản 1, thì bạn và các con là người thừa kế theo phải pháp luật phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ này trong phạm vi di sản được thừa kế của chồng bạn là hai mảnh đất đang thế chấp. Hoặc nếu tài sản thế chấp là tài sản chung của hai vợ chồng thì bạn vẫn có trách nhiệm với khoản nợ chung của hai vợ chồng. Bạn có thể thương lương với ngân hàng để làm thủ tục xác nhận di sản thừa kế cùng đồng thừa kế là bạn và các con để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Đối chiếu với khoản 2 của điều 637 Bộ luật dân sự 2005 thì khi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại sẽ không cần yêu cầu chia di sản thừa kế mà sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ xong rồi tiến hành chia di sản thừa kế dựa trên khối di sản còn lại sau khi thực hiện xong nghĩa vụ của người chết để lại.
Do đó, bạn có thể dùng khối tài sản một mảnh đất của chồng hoặc của bạn và chồng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng xong rồi mới yêu cầu chia thừa kế thì pháp luật sẽ tôn trọng cũng như không có quy định nào cấm rằng phải chia di sản thừa kế rồi mới thực hiện nghĩa vụ.
Bạn sẽ tiến hành các thỏa thuận với ngân hàng: bán mảnh đất không qua đấu giá cho bên thứ 3, hoặc bán lại cho ngân hàng theo quy định tại Thông tư liên tịch 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN của bộ tài nguyên môi trường và ngân hàng nhà nước Hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm:

"Điều 10. Bán tài sản bảo đảm không qua đấu giá

1. Trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thỏa thuận về việc bán tài sản bảo đảm không qua đấu giá và không có thỏa thuận khác về việc xác định giá bán tài sản thì việc định giá bán tài sản bảo đảm được thực hiện như sau:

a) Bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm thỏa thuận về giá bán tài sản bảo đảm bằng văn bản. Trong trường hợp không thỏa thuận được giá bán tài sản thì bên bảo đảm có quyền chỉ định cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá để xác định giá bán tài sản trong thời hạn mười lăm (15) ngày, kể từ ngày không thỏa thuận được giá bán. Sau thời hạn mười lăm (15) ngày, nếu bên bảo đảm không chỉ định cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá thì bên nhận bảo đảm có quyền chỉ định cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá để xác định giá bán tài sản. Chi phí thuê cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá được tính vào chi phí xử lý tài sản bảo đảm.

b) Trong trường hợp tài sản bảo đảm không bán được theo định giá của cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá thì bên nhận bảo đảm được quyền hạ giá bán tài sản trong thời hạn mười lăm (15) ngày, kể từ ngày không bán được tài sản. Việc hạ giá bán tài sản thực hiện liên tục ba (03) lần nhưng mỗi lần hạ giá bán tài sản không được quá mười phần trăm (10%) giá đã định và phải cách nhau ít nhất là ba mươi ngày (30) ngày đối với bất động sản và mười lăm (15) ngày đối với động sản. Bên nhận bảo đảm có trách nhiệm thông báo cho bên bảo đảm việc hạ giá bán tài sản bảo đảm.

Sau ba (03) lần liên tục hạ giá mà vẫn không bán được tài sản bảo đảm thì bên nhận bảo đảm được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 11 của Thông tư này. Giá trị tài sản bảo đảm trong trường hợp này là mức giá của lần hạ giá cuối cùng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc bán tài sản bảo đảm phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Bên nhận bảo đảm phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản, người có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm trong quá trình bán tài sản bảo đảm.

Điều 11. Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm

Trong trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thỏa thuận về việc xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm thì thực hiện như sau:

1. Việc xác định giá trị của tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 của Thông tư này.

2. Trường hợp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, sau khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có trách nhiệm nộp hồ sơ chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 của Thông tư này. Hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản thỏa thuận khác về việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm được sử dụng thay thế cho hợp đồng, giấy tờ, tài liệu chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm.

3. Trường hợp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, sau khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định tại khoản 3 Điều 12 của Thông tư này.

4. Giá trị của tài sản bảo đảm được bù trừ vào số tiền vay, tiền lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng và các chi phí hợp lý khác theo quy định của pháp luật. Bên bảo đảm được nhận số tiền còn lại sau khi đã thanh toán đầy đủ nghĩa vụ cho bên nhận bảo đảm.

Trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán giá trị nghĩa vụ thì bên bảo đảm có trách nhiệm hoàn trả số tiền còn thiếu cho bên nhận bảo đảm nếu bên bảo đảm đồng thời là bên có nghĩa vụ được bảo đảm hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải hoàn trả số tiền còn thiếu cho bên nhận bảo đảm nếu bên bảo đảm không đồng thời là bên có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

5. Trường hợp bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm nhưng không thuộc đối tượng được xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định của pháp luật thì bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận lựa chọn phương thức xử lý tài sản bảo đảm khác đã được quy định tại Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP. Nội dung thỏa thuận của các bên có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng bảo đảm.

Sau khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bạn hoặc ngân hàng sẽ làm thủ tục xóa thế chấp để thực hiện việc chia tài sản thừa kế mảnh đất còn lại theo thủ tục sau: người yêu cầu đăng ký nộp hồ sơ và nhận kết quả trực tiếp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất - Sở Tài nguyên và Môi trường.

+ Thành phần hồ sơ:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Đơn yêu cầu xoá đăng ký thế chấp (02 bản);

- Văn bản xác nhận của bên nhận thế chấp về việc hoàn thành xong nghĩa vụ bảo đảm;

- Giấy uỷ quyền (nếu có);

- Giấy tờ có liên quan (nếu có).

Thời hạn giải quyết thủ tục hành chính: Thời gian thực hiện các công việc quy định tại mục b trên đây là trong ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lê. Trường hợp nộp hồ sơ từ 15 giờ có thể trả kết quả sang ngày làm việc tiếp theo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ?

Mong luật sư tư vấn giúp tôi về quyền thừa kế đất đai Ông bà tôi mất đi để lại một mảnh đất và không để lại di chúc. Ông bà có 4 người con là Bác trai, Bác gái 1, Bác gái 2 và mẹ tôi. Hiện giờ cũng đã mất hết.

Bác trai có 1 con trai đã đi vào Nam hơn 30 năm nay chưa về quê Bác gái 1 có 1 con gái Bác gái 2 không có con Mẹ tôi có 2 con ( tôi và 1 em) Bác gái 2 ở lại trên mảnh đất do ông bà để lại. Tôi sống cùng bác học tập và lớn lên đi bộ đội. Mảnh đất cũng bị chiếm mất 1 phần, gia đình không có người bác lại không có con nên 10 năm sau khi tôi đi bộ đội thì bác gái lên đơn vị xin phép để tôi về sống cùng để chăm sóc bác lúc tuối già và thờ cúng tổ tiên, trông coi mồ mả và giữ gìn đất đai không bị xâm chiếm Chị con bác gái 1 cũng mất hơn 1 năm nay. Trước khi mất không ai nói gì về chuyện đất cát thừa kế và di chúc. Không ai nói gì hay thực hiện nộp thuế nghĩa vụ với nhà nước Hiện nay các con chị về đòi chia đất đai và bảo là chị có để lại di chúc. Trong lúc bác gái 2 còn sống tôi cũng đã được nghe kể về chuyện bác gái 1 đã được ông bà chia cho 1 mảnh vườn nhưng gia đình bác bị quy là địa chủ nên đã bị thu. Hiện giờ cũng lâu năm nên những người làm chứng cũng mất hết.

Vậy xin hỏi luật sư di chúc để lại có hợp pháp không, hiện giờ những ai là người thừa kế hợp pháp, tài sản sẽ được chia như thế nào Trong đợt xã làm sổ đỏ cho các hộ thì tôi cũng đã được cấp sổ đỏ 400m2/2000m2 của mảnh đất đó vậy nếu phải chia tài sản thì 400m2 đó có bị tách ra chia đều không ?

Tôi xin trân thành cám ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về di chúc của chị - con bác gái 1 có hợp pháp hay không?

Để có thể xác minh di chúc có hợp pháp hay không, trước hết, cần xác minh có tồn tại bản di chúc này không. Để xác minh, bạn có thể yêu cầu họ đưa ra bản di chúc này. Tuy nhiên, di chúc có thể tồn tại dưới hai dạng mà bạn cần lưu ý để xác minh vì bạn nói không đầy đủ các thông tin nên chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2005 về hình thức của di chúc:

"Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình"

"Điều 651. Di chúc miệng

1. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực"

Như vậy, bạn có thể yêu cầu cháu của bác gái một đưa bản di chúc ra, nếu không thì sẽ coi như không có di chúc, bạn có thể lưu ý về di chúc miệng: di chúc này phải được thể hiện trước mặt ít nhất hai người làm chứng và những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực"

Thứ hai, chia di sản của ông bà bạn khi mất có để lại

Di sản ông bà bạn để lại là một mảnh đất. Vì ông bà bạn không để lại di chúc nên di sản này sẽ được chia theo pháp luật. Bạn có nói trong đợt xã làm sổ đỏ cho các hộ thì bạn cũng đã được cấp sổ đỏ 400m2/2000m2 của mảnh đất đó vì thế phần diện tích đất này thuộc sở hữu của bạn. Di sản thừa kế còn lại là mảnh đất với diện tích là 1600m2 được chia như sau:

Theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản:

Như vậy, hàng thừa kế đầu tiên là bác trai, bác gái 1, bác gái 2, mẹ bạn đã mất vì thế di sản sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ hai gồm: con trai của bác trai, con gái của bác gái 1, bạn và em của bạn. Mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau là 400m2.

Còn đối với cháu của bác gái một, vì mẹ đã mất nên phần di sản của mẹ bạn này sẽ thuộc về bạn này theo hàng thừa kế thứ nhất

Kết luận: con trai của bác trai, cháu gái của bác gái 1, bạn và em của bạn mỗi người được hưởng diện tích đất là 400m2. Còn bạn sẽ được tổng công là 400m2 + 400m2 ( đã được cấp sổ đỏ trước đó) là 800m2.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Hướng dẫn chia tài sản thừa kế cho các con ?

Thưa luật sư, Chồng em bị lên kế hoạch từ trước bởi 1 người phụ nữ và có con với sự ép buộc kết hôn, mới trả tiền nợ được 4 tháng thì ly hôn, tài sản chỉ có tiền dư đám cưới chia đều cho mỗi bên, bây giờ anh ấy kết hôn với em có 1 đứa con, 1 căn nhà, 1 sổ tiết kiệm, 1 xe SH, 1 xe Ben. Những tài sản trên chồng em để 1 mình em đứng tên. Đứa con của chồng em với vợ trước có được hưởng tài sản trên không? Chồng em nói lỡ chồng mất hay còn sống sẽ viết di chúc không để lại cho đứa con đó.

Vậy đứa con đó có được hưởng tài sản trên không? và chồng em nói nếu bây giờ chồng em cho em những tài sản trên nhập vào tài sản riêng thuộc quyền sỡ hữu của em thì làm giấy tờ thủ tục gì không? Đứa con đó có được hưởng không, chồng em lo không muốn đứa con đó được hưởng. Ngoài ra có cách nào khác đảm bảo đứa con đó đừng hưởng tài sản không? điều cuối cùng người vợ trước của chồng em tự đặt tên cho con và lấy họ của chồng em lúc đó do đi làm ăn xa nên anh ấy không biết, không đồng ý, không quan tâm. Bây giờ anh ấy muốn đứa con đó đừng mang họ mình nữa thì phải làm sao? Mong được sự giải đáp của luật sư.

Em xin chân thành cảm ơn!

Căn nhà thừa kế chia thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, Gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp thừa kế có di chúc theo điều 648 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội:

"Điều 648. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản."

Trong trường hợp mà chồng bạn có lập di chúc thì chồng bạn sẽ có các quyền như theo quy định trên. Như vậy việc chồng bạn không muốn đứa con riêng với vợ trước được hưởng di sản thừa kế thì khi lập di chúc chồng bạn có thế truất quyền hưởng di sản thừa kế của đứa con đó. Tuy nhiên, nếu người con này thuộc vào quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự (con chưa thành niên), thì lúc này người này vẫn được hưởng bằng 2/3 suất thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.

Trong trường hợp chồng bạn không có di chúc thì sau khi mất, việc thừa kế sẽ được xác định theo quy định của pháp luật.

Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Về việc đổi họ cho đứa trẻ:

Theo Khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng..."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì cả hai vợ chồng đều có quyền và nghĩa vụ đối với con ngay cả khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Vì vậy, khi bạn muốn đổi họ cho con thì bạn phải có sự đồng ý của cả cha và mẹ đứa trẻ.

Thủ tục thay đổi họ của con sang họ của mẹ được quy định tại điều 1 Nghị định 06/2012/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:

- Tờ khai yêu cầu thay đổi (theo mẫu)

- Bản chính giấy khai sinh của con bạn.

- Các loại giấy tờ khác có liên quan.

Lưu ý: trong Tờ khai phải thể hiện rõ sự đồng ý của con bạn (nếu con bạn trên 9 tuổi).

Nơi nộp: UBND cấp xã (nơi đã đăng ký khai sinh trước đây).

Thời hạn giải quyết: không quá 8 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Căn nhà thừa kế chia thế nào?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi về quyền thừa kế: Năm 1993 tôi và Bố sống cùng nhau, sau đó Bố lấy vợ 2 và sinh thêm 1 em bé. Khi đó Tôi chuyển về ở với Mẹ đẻ.

Đến năm 2007 Bố tôi mất để lại tài sản là 1 căn nhà, căn nhà này Vợ 2 và con của Bố tôi với Vợ 2 ở cùng nhau đến giờ. Nay tôi muốn đòi chia tài sản mà căn nhà Bố tôi để lại, Vậy xin hỏi luật sư tôi có được quyền chia tài sản căn nhà này không? Và nếu chia tai sản căn nhà này thì tỉ lệ chia sẽ như thế nào, tôi được bao nhiêu phần trăm.

Xin lưu ý : Tôi và Bố sống ở căn nhà này trước khi Bố lấy vợ 2, Khi ly hôn với Mẹ tôi thì Bố tôi nhận quyền nuôi tôi. Căn nhà này do Bố tôi bán phần đất cũ khi ở cùng Mẹ tôi đề mua căn nhà hiện tại. Vợ 2 của bố tôi không có đóng góp tài chính để mua căn nhà này.

Tên khách hàng: P.H.K.

Trả lời:

Căn cứ theo thông tin bạn đưa ra, căn nhà của bố bạn mà bạn muốn chia thừa kế là tài sản riêng của bố bạn vì đây là tiền của bố bạn mà người vợ 2 cũng như mẹ bạn không có đóng góp gì. Chính vì vậy, toàn bộ căn nhà đó sẽ là tài sản chia thừa kế của bố bạn.

Do khi chết bố bạn không để lại di chúc nên căn cứ theo quy định tại điều 675 Bộ Luật dân sự năm 2005 về thừa kế theo pháp luật thì trường hợp này phần di sản bố bạn để lại sẽ chia theo pháp luật:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Căn cứ theo điều 676 BLDS 2005 về những người thừa kế theo pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất nhận phần di sản của bố bạn bằng nhau bao gồm: bạn, mẹ bạn, mẹ kế bạn và đứa con của vợ hai bố bạn

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, bạn có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế căn nhà của bố bạn để lại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?