1. Khái quát chung về tài nguyên thiên nhiên và nền nông nghiệp nước ta

Tài nguyên thiên nhiên là những của cải vật chất có sẵn trong thiên nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và tái sử dụng để phục vụ đời sống của mình (rừng cây, loài động vật, thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các loại xăng, dầu, khí đốt......). Tài nguyên môi trường, hay còn gọi là tài nguyên nước là một bộ phận thiết yếu của tự nhiên và có liên quan trực tiếp với hệ sinh thái. Tài nguyên không bao gồm: các sản phẩm tái chế, các sản phẩm thuộc phân khúc chất thải, thực vật đã xử lý, các sản phẩm nông lâm nghiệp như cá, tôm, gỗ, nhựa, cao su, các sản phẩm trong ngành công nghiệp nói chung và ngành dệt may nói riêng.

Các loại tài nguyên thiên nhiên:

  • Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự phục hồi hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được khai thác một cách phù hợp. Tuy nhiên, nếu khai thác không phù hợp, tài nguyên này sẽ bị suy giảm không thể phục hồi lại. Ví dụ: tài nguyên không khí có thể bị ô nhiễm, tài nguyên nước có thể bị ôxy hoá, bốc hơi, xói mòn,......
  • Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại vĩnh viễn và sẽ giảm đi hoặc thay đổi sau quá trình khai thác. Ví dụ như tài nguyên thiên nhiên như dầu thô và khí đốt của một mỏ sẽ bị mất sau khi sử dụng.

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Trải qua hơn 65 năm hình thành và phát triển từ ngày 14/11/1945 đến nay với những tên gọi khác nhau ở từng thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của đảng, nhà nước, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn , thử thách, đấu tranh với đói nghèo, thiên tai, địch họa. Con đường đi dù có nhiều khó khăn, thách thức bởi mang trên mình trọng trách lớn lao song ngành nông nghiệp ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam cũng là một nước nông nghiệp. Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994) , tăng 1,32% so với năm 2008 và đóng góp 13,85% tổng sản phẩm trong nước. Ngược lại đến năm 2020, giá trị sản xuất đạt khoảng 27 nghìn tỷ đồng. Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị giảm sút trong vài năm trở lại đây, trong khi nhiều lĩnh vực kinh tế khác tăng trưởng. Đóng góp của nông nghiệp vào giải quyết việc làm vẫn lớn hơn mức đóng góp của lĩnh vực dịch vụ vào GDP. Trong năm 2020, có khoảng 17.5 triệu lao động việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản. Sản lượng gạo xuất khẩu chiếm khoảng 30% của năm 2005. Việc tự do hoá sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới trong xuất khẩu gạo. Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, chè, hạt tiêu, gạo, và sắn, phần lớn là xuất khẩu thô không qua chế biến. Năm 2018, diện tích đất nông nghiệp Việt Nam là 27.289.454 ha, dân số Việt Nam là 95.540.395 người với mức bình quân đất canh tác là 0,2856 ha/người. Trong khi đó năng suất sử dụng đất tại Việt Nam đạt khoảng 1.000 USD/ha/năm tương đương với thu nhập do ngành nông nghiệp đem lại ở Việt Nam là 285 USD/người/năm. Nông nghiệp mang đến cho Việt Nam một mức thu nhập cực thấp (dưới mức trung bình là 1,9 USD/ngày) và nước này chưa thể trở thành quốc gia phát triển nếu chỉ dựa vào nông nghiệp mặc dù nông nghiệp đang là lĩnh vực chủ đạo trong nền kinh tế.

 

2. Lịch sử nền nông nghiệp nước ta

Sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng nhất trong quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam sau nhiều biến đổi thăng trầm từ những ngày thống nhất cho đến năm 1975. Sự phát triển kinh tế được ghi nhận vào năm 1976 - tăng hơn 10% so với năm 1975 nhưng sản xuất đã sụt giảm xuống chỉ còn 95% giữa các năm 1976, 1977 và 1978 và sự phục hồi đáng kể từ năm 1979. Trồng trọt và chăn nuôi đã bù đắp cho những tổn thất của nông nghiệp trong thời gian chiến tranh. Ví dụ, khoảng 8% tăng trong sản lượng chăn nuôi trong năm 1977 làm cân bằng 8% sụt giảm của sản lượng lương thực (thường là giá trị của 1 triệu tấn hạt ngũ cốc giảm qua mỗi vụ mùa). Trong năm 1978 kết quả đã đảo ngược: hiện tượng sản lượng gia súc sụt giảm mạnh đi đôi với việc sản lượng của cây trồng bắt đầu tăng. Giá trị của lương thực đã vượt gần gấp bốn lần so với sản lượng gia súc lúc ban đầu. Trên hết vấn đề lớn nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam là khí hậu bất thường, với đợt hạn hán xảy ra năm 1977 và các cơn mưa gây ngập lụt trong suốt năm 1978. Trận mưa làm lượng nước vượt quá tiêu chuẩn đối với gia súc, điều đó khiến chúng chết từ từ. Và thêm các đợt lũ lụt khiến số lượng gia súc giảm dưới 20%. Các thống kê của Việt Nam không được công bố đầy đủ trong khi đàn bò suy giảm so với mục tiêu đã đề ra vào năm 1978 và 1980. Qua các kế hoạch thất bại nặng từ cuối năm 1970s đã làm chậm và suy thoái nền chăn nuôi. Và các vấn đề phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, cùng nhiều thiết bị khác vẫn còn thiếu ở Việt Nam. Bỏ mặc tình trạng thiếu hụt lương thực lẫn nguyên vật liệu trong những thời kỳ này chính phủ vẫn tiếp tục thi hành những chính sách đã dự tính, với niềm hy vọng sản lượng lương thực đủ để ăn (đủ lương thực đáp ứng nhu cầu cho mỗi người) không được khả quan cho lắm như những thập niên 1980. Năm 1980, dự kiến sẽ thu hoạch khoảng trên 15 tấn chứ không phải 21 triệu tấn, tuy nhiên sản lượng đã không đạt mức như mong đợi. 

Chính sách nông nghiệp được ban hành từ năm 1976 đến 1980 đã có nhiều kết quả tích cực và xấu. Dựa trên tiêu chuẩn khuyến khích gieo trồng thêm các loại cây lương thực có năng suất cao như (ngô, sắn, đậu tương, và khoai tây) dẫn tới tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn 10% từ năm 1975 và đã lên đến thêm 20% vào cuối thập niên 1970. Những kế hoạch khuyến khích nông nhân trong những năm 1978 và 1979 bao gồm việc gia tăng số lượng người tiêu thụ sản phẩm trong các khu vực nông thôn và nỗ lực giảm chi phí. Chính phủ đã thi hành kế hoạch bằng việc ký các hợp đồng cam kết đảm bảo có lãi đối với những người trực tiếp sản xuất trong nông nghiệp. Tuy nhiên, nhiều quan chức cao không có kinh nghiệm lại còn thiếu tiền trả cho nông dân và chính sách đã bị thất bại. Kế hoạch được thi hành vào khoảng giữa năm 1977 để hoàn tất việc hợp nhất nông nghiệp Bắc và Nam tuy nhiên đã vấp bị phản đối mạnh mẽ từ miền Nam. Theo báo cáo thì kế hoạch của người dân đã được thiết kế và được thực thi bởi những chủ tịch địa phương, tuy nhiên nông dân miền Nam chủ yếu là người làm chủ ruộng chứ không phải là tá điền, bên cạnh thất bại từ việc tạo ra đội sản xuất chung vì mục đích phản đối chính sách nhà nước (một ý kiến được nông dân miền Nam chấp thuận nhanh chóng) , Họ từ chối hợp tác trong bất kì sự hợp tác nào mà không đúng với chủ quyền tài sản. Thất bại từ việc không thể hợp nhất nông nghiệp đưa ra biện pháp mới là dùng bạo lực nhằm ép buộc người dân phải tham gia. chính sách đó rõ ràng làm phản tác dụng. Vào cuối những năm 1978 và 1979 các nhà lãnh đạo chính quyền đã làm chủ được tình hình nông nghiệp dẫn tới tăng sản lượng còn thiếu hụt. Trong miền Bắc, dạng làm ăn chung (liên doanh) giữa nhiều gia đình đã được hình thành vào khoảng năm 1959 và 1960, và đến năm 1965 khoảng 90% tài sản của họ đã trở thành của chung. Năm 1975, hơn 96% tài sản của nông dân đã thuộc về ngân sách nhà nước và để chia lợi tức cho họ, nhiều nông dân đã đóng góp đất đai, của cải, cây trồng, vật nuôi để có thêm thu nhập. 

Khoảng năm 1976 và 1980, chính sách nông nghiệp ở miền Bắc được thực thi bởi chính quyền mới trong việc cố gắng làm chủ kế hoạch trồng trọt và chăn nuôi. Sự quản lý không chặt chẽ của các chính quyền trong những năm chiến tranh đã dẫn tới việc khó khăn hơn để có thể gia tăng số lượng lao động được hưởng và các nghĩa vụ khác. Dẫn tới năng suất lao động giảm sút. Một người Việt ở Mỹ khảo sát 10 hợp tác xã sản xuất lúa gạo thì thấy rằng, tuy tăng năng suất và diện tích gieo trồng trong các năm 75, 76 và 77, song sản lượng vẫn thấp trong khi chi phí lại tăng so với giai đoạn từ năm 72 đến 74. Mặc dù không tính đến thiên tai và các nhân tố môi trường, song những phát hiện trên trùng với sự nhận định của nhiều chuyên gia nghiên cứu về những tác động của việc cơ giới hoá ở một số nước khác. Vốn đầu tư từ nhà nước vào nông nghiệp trong năm thứ ba của kế hoạch 5 năm vẫn ở mức độ thấp, khiến nhiều quận huyện vấp phải trở ngại lớn trong thời gian kế hoạch 5 năm và kéo dài đến những 1986 và 1987. Chỉ có số lượng lương thực tăng trưởng 5% hàng năm. Tuy số lượng thóc đủ để thoả mãn mức tăng dân số 2,3% trong các năm của thập niên 1980, nó vẫn không đủ để đảm bảo số lượng trung bình tiêu dùng hàng năm cho từng hộ là cao hơn đáng kể so với số lượng 300 kg. Theo quy định của chính quyền Việt Nam từ năm 1986 mỗi gia đình nông dân phải đóng góp 80% thu nhập của họ để đổi lấy cái họ muốn. Kết luận năm thứ ba của quá trình kế hoạch 5 năm, sản lượng nông nghiệp vẫn đạt thấp dưới mức trung bình nên chính quyền Việt Nam chuyển qua hướng sử dụng những tài vận này nhằm đầu tư thêm cho kinh tế. Trong năm 1986 nền nông nghiệp thu nhập ổn định chiếm khoảng 44% của lợi tức quốc gia (số tiền dùng cho duy trì phát triển đất nước có thể lên tới 10%) . Nền kinh tế chiếm khoảng 66% nhân công toàn nước - cao hơn các năm 1976 và 1980. Tệ nhất chính là thu nhập trung bình mỗi nông nhân (thuộc nông nghiệp) sụt giảm trong thời kỳ này, nhưng thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng của công nhân (thuộc công nghiệp) . Trong năm 1980, ba nhân công nông nghiệp đã nhận được thu nhập trực tiếp sản xuất từ một công nhân và năm 1985 một công nhân tăng gấp 6 lần so với trước đây.

 

3. Những thuận lợi của tài nguyên thiên nhiên để phát triển nông nghiệp ở nước ta

Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và dồi dào cho sản xuất nông nghiệp đó là đất đai, không khí, nước và tài nguyên thực vật.

  • Đất: Nước ta có đa dạng các loại đất và được phân bố rộng khắp trên hầu hết các vùng miền của đất nước. Theo đó, nước ta có tất cả 14 loại đất, trong diện tích đất nhiều nhất là phù sa và Feralit. Đất phù sa khoảng 3 triệu ha, tập trung phần lớn ở vùng đồng bằng, thích hợp để trồng lúa nước và các cây công nghiệp ngắn ngày. Đất feralit khoảng 16 triệu ha, tập trung chủ yếu ở trung du và miền núi, thích hợp với việc trồng cây công nghiệp dài năm (cao su, điều, hồ tiêu,......), cây ăn quả và các cây ngắn ngày (ngô khoai,.....).  Nước ta có một số loại đất rất tốt: đất đỏ bazan, đất đỏ phù sa được bồi và không bồi hàng năm; những loại đất này lại phân bố trên diện tích rộng, trên địa hình khá bằng phẳng ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long. Chính đó là những địa bàn rất tốt với hình thành các vùng chuyên canh qui mô lớn: cung cấp cà phê ở Tây Nguyên, cao su ở Đông Nam Bộ, chuyên canh lúa ở Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long. Đất trung du miền núi có diện tích rộng chiếm tới gần cả nước trên đó lại có nhiều cao nguyên, bình nguyên và đồng bằng giữa núi nổi tiếng như: cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), cao nguyên Đức Trọng (Lâm Đồng) và đặc biệt là vùng gò đồi trước núi các tỉnh miền Trung với nhiều đồng cỏ tự nhiên rộng lớn là những địa bàn rất tốt với nuôi gia súc lớn: bò sữa, bò thịt….... Đất trung du miền núi còn là địa bàn rất quan trọng để phát triển lâm nghiệp trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc bảo vệ môi trường.
  • Nước: Vì sông ngòi nước ta có trữ lượng nước lớn như nêu trên: 853 tỉ m3 đó chính đó là nguồn nước tưới rất cần thiết với phát triển nông nghiệp, đặc biệt nền nông nghiệp nước ta là nền văn minh lúa nước: 1 ha lúa nước cần từ 15000 đến 60000 m3/năm. Sông ngòi nước ta có hàm lượng phù sa lớn chính đó là nguồn phân bón tự nhiên rất tốt bồi đắp cho đồng bằng càng thêm màu mỡ: nếu có 1 lớp phù sa dày khoảng 5 cm phủ trên mặt ruộng thì có thể làm tăng năng suất lúa liên tục 400 kg thóc/vụ/ha. Đồng thời phù sa sông ngòi còn có giá trị bồi đắp cho đồng bằng làm cho đồng bằng ngày càng mở rộng thêm về phía biển. Nhờ vậy mà nhân dân ta có thể tiến hành quai đê lấn biển mở rộng thêm diện tích trồng trọt. Sông ngòi còn là địa bàn rất tốt với nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, lợ: tôm, cá và trồng rong câu. Đồng thời sông ngòi cũng là nơi để vớt cá giống (cá bột) phục vụ cho mục đích nuôi thuỷ sản trong các hộ kinh tế gia đình. Bên cạnh đó, nước ta có hệ thống mạng lưới sông ngòi chằng chịt. Đây cũng là nguồn nước ngầm quan trọng để hỗ trợ các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhất là vào mùa mưa. Vùng biển nước ta rộng trên 1 triệu km² trên đó lại có hơn 3000 đảo nhỏ và nhiều đảo lớn lớn: như Cát Bà, Thổ Chu, Phú Quốc… và 2 quần đảo lớn: Hoàng Sa và Trường Sa. Dọc bờ biển nước ta với đường bờ biển dài từ Móng Cái đến Hà Tiên là 3260 km, trên đó lại có hàng trăm ngàn ha đầm phá, cửa sông, vũng, vịnh, bãi, triều nổi tiếng như phá Tam Giang, đầm Cầu Hai, đầm Tây, đầm Dơi…là những địa bàn rất tốt với nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ như nuôi tôm, cá, rong câu...... 
  • Khí hậu: Vì khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới với nền bức xạ cao, với tổng nhiệt độ hoạt động lớn và đó là điều kiện cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới với khả năng xen canh, tăng vụ, gối vụ, quay vòng đất liên tục mà điển hình là ta có thể sản xuất từ 3 đến 4 vụ trong năm. Khí hậu nhiệt đới nên cho phép ta có thể sản xuất được nhiều đặc sản nhiệt đới có giá trị kinh tế cao điển hình là những sản phẩm ưa nóng như: cà phê, cao su, tiêu điều... rất có giá trị xuất khẩu sang các nước ôn đới. Khí hậu nhiệt đới cho nên nước sông, biển không đóng băng cho phép ta phát triển giao thông thuỷ, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản và du lịch biển quanh năm. Khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều với lượng mưa lớn như nêu trên đó là điều kiện môi trường rất phú hợp với phát triển một nền nông nghiệp lúa nước nhiều vụ quanh năm. Vì vậy mà nước ta ngày nay trở thành một trong những nước sản xuất nhiều lúa gạo nhất thế giới. Khí hậu phân hoá sâu sắc theo mùa đặc biệt có mùa đông lạnh ở miền Bắc đó là điều kiện thuận lợi để phát triển một hệ thống cây trồng vật nuôi rất đa dạng gồm nhiều cây ưa nóng: cà phê, cao su, lúa nước... và nhiều cây ưa lạnh su hào, cải bắp, xúp lơ... Khí hậu lại phân hoá rất rõ từ Bắc vào Nam và tạo nên ở nước ta có 3 miền khí hậu khác nhau là điều kiện để thực hiện sự trao đổi sản phẩm nông nghiệp giữa các vùng làm cho mọi vùng của nước ta đều rất phong phú và đa dạng bởi các sản phẩm nông nghiệp. Khí hậu nước ta lại phân hoá rất rõ theo chiều cao cho nên ở các vùng núi cao trên 1000m có kiểu khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới mát lạnh quanh năm: Sapa, Đà Lạt, Tam Đảo, Mẫu Sơn… là những địa bàn rất tốt với phát triển du lịch, nghỉ mát, dưỡng bệnh. Đồng thời ở những vùng núi cao này lạI rất phù hợp với trồng các cây cận nhiệt đới và ôn đới như các dược liệu quý (tam thất, sa nhân, hà thủ ô.....) và nhiều loại cây ăn quả cận nhiệt và ôn đới (đào, mận, lê.....)
  • Tài nguyên sinh vật: Tài nguyên sinh vật nước ta rất phong phú, đa dạng về giống loài và chủng loại: Về thực vật: ta có 14624 loài trong đó có 354 loài gỗ, 1500 loài dược liệu, 650 loài rong. Về động vật: có 11217 loài trong đó có 265 loài thú, hơn 1000 loài chim, 349 loài bò sát, 2000 loài cá biển, 500 loài cá nước ngọt, 70 loài tôm, 50 loài cua và 2500 loài nhuyễn thể… Nguồn gen đa dạng, là cơ sở để nhân dân ta thuần hoá và sản xuất ra nhiều loại cây trồng, vật nuôi; trong đó một số giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao, thích ứng với đặc điểm khí hậu của mỗi vùng.

Hy vọng bài viết trên đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích. Trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi.