Người gửi: P.T.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục  tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự 1900.6162

Trả lời:  Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung phân tích

1.Thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba

Theo điều 283 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau

Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Hiện nay để khuyến khích và đảm bảo các giao dịch dân sự diễn ra phù hợp với ý chí của các bên, pháp luật cho phép đối với một số loại giao dịch mà không nhất thiết phải do người có nghĩa vụ đích thân thực hiện thì người đó có thể ủy quyền cho người khác thực hiện giúp mình. Tuy nhiên, việc ủy quyền như vậy phải đi kèm với những điều kiện nhất định cụ thể như sau:

1.1 Việc ủy quyền phải được người có quyền ủy quyền đồng ý

Pháp luật không quy định việc đồng ý của bên có quyền có phải thể hiện dưới hình thức bằng văn bản không hay chỉ cần bằng lời nói. Do vậy, chúng ta có quyền hiểu rằng sự đồng ý không nhất thiết phải lập thành văn bản. Tuy nhiên, việc yêu cầu bên có quyền đồng ý bằng văn bản sẽ dễ chứng minh khi phát sinh tranh chấp giữa các bên.

1.2 Bên có nghĩa vụ vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền

Mặc dù đã giao người khác thay mình thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền nhưng trong trường hợp người thứ ba được ủy quyền không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ với bên có quyền thì bên có nghĩa vụ đã ủy quyền vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền. Bên có quyền vẫn có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự hoặc phải bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận. Quy định này nhằm bảo vệ bên có quyền khỏi tình trạng bên có nghĩa vụ tìm cách trốn trách nghĩa vụ của mình bằng việc đấy trách nhiệm cho người thứ ba. Cũng cần lưu ý rằng với quy định này của Luật sẽ có một số ngoại lệ như sau:

- Có một số loại nghĩa vụ phải do chính người có nghĩa vụ thực hiện mà không thể thực hiện thông qua người thứ ba, đó là các nghĩa vụ liên quan đến nhân thân như nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt haiij do xâm phạm đến sức khỏe.

- Các chủ thể mang nghĩa vụ không thể đưa ra lý do là đã ủy quyền cho người khác để mình không phải thực hiện nghĩa vụ này .

- Đối với nghĩa vụ không thể thực hiện một công việc không thể ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện vì trong trường hợp này đòi hỏi chính các chủ thể mang nghĩa vụ phải thực hiện.

Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba được quy định tại Điều 315 BLDS: 

2. Chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Theo điều 370 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau

1. Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.

2. Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho bên có nghĩa vụ trước bên có quyền, pháp luật quy định cho bên có nghĩa vụ được lựa chọn phương thức thực hiện nghĩa vụ thông qua chính mình hoặc người thứ ba. Là sự thỏa thuận giữa bên có nghĩa vụ với người thứ ba trên cơ sở có sự đồng ý của bên có quyền, theo đó bên có nghĩa vụ chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thứ ba được gọi là người thế nghĩa vụ. Khi nghĩa vụ được chuyển giao thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ đó vẫn phải gắn với lợi ích của bên có quyền nên mặc dù được chuyển giao nghĩa vụ cho người thứ ba nhưng phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Phải nhận được sự đồng ý của bên có quyền. Vì việc lựa chọn người gánh vác nghĩa vụ thay thế cho người trước đó chính là sự lựa chọn rủi ro cho mình. Nên pháp luật quy định phải có sự đồng ý của bên có quyền nhằm loại bỏ rủi ro cho mình.

- Nghĩa vụ gắn với nhân thân không được chuyển giao. Về nguyên tắc, các quyền nhân thân trong quan hệ pháp luật dân sự không được phép chuyển dịch cho người khác. Tương tự như vậy, khi một bên mang quyền nhân thân gắn với tài sản phải tạo ra một nghĩa vụ nhân thân của người khác và nghĩa vụ nhân thân này cũng không được chuyển giao cho người khác. Ví dụ: Quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín.

- Nghĩa vụ mà pháp luật quy định không được phép chuyển giao. Ví dụ, nghĩa vụ đang có tranh chấp kể cả các bên có thỏa thuận cũng không được chuyển giao.

Khi việc chuyển giao thành công, về nguyên tắc, bên có nghĩa vụ sẽ chấm dứt quan hệ nghĩa vụ với bên có quyền và hình thành quan hệ nghĩa vụ mới giữa bên thế quyền và bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ trước đó.

Như vậy bạn có thể so sánh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba và việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự dựa trên những tiêu chí như: Khái niệm, hình thức, những trường hợp được thực hiện, hậu quả pháp lý.

3. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

Câu hỏi: chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có 1 câu hỏi nhờ quý công ty giải đáp giúp tôi. Tôi cho một người bạn vay tiền, trả dần hàng tháng. Trước khi chuyển công tác vào Đà Lạt , người này cùng với em họ có đến gặp tôi và thông báo từ giờ trở đi, người em họ này sẽ là người trả tiền cho tôi. Vì tin tưởng nên tôi cũng đồng ý. Tuy nhiên, ngay kỳ trả tiền tiếp theo, người em họ đã không thực hiện như cam kết. Tôi gọi điện cho người bạn thì người này trả lời đã thỏa thuận với tôi chuyển trách nhiệm trả khoản tiền vay cho người em họ rồi . Cho nên, người đó hết trách nhiệm và tôi phải đi đòi người em họ của người đó. Xin hỏi luật sư bây giờ tôi phải làm sao, liệu tôi có thể yêu cầu người bạn tiếp tục trả tiền cho tôi hay không vậy. Cảm ơn luật sư!

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Câu hỏi của bạn chúng tôi đã nghiên cứu và phân tích như sau:

Điều 466 của Bộ luật này quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

Dựa trên căn cứ pháp luật trên việc bạn cho người khác vay tiền, về nguyên tắc người này có trách nhiệm trực tiếp trả lại cho bạn.

Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng quy định người vay có thể thực hiện nghĩa vụ của mình thông qua người thứ ba.

Cụ thể, Điều 283 Bộ luật này quy định:

“Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể uỷ quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Có nghĩa là, nếu được bạn đồng ý, người vay tiền của bạn có thể ủy quyền cho em trai trả nợ thay. Trường hợp người em trai không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ tiền vay, người vay tiền vẫn phải thực hiện nghĩa vụ này. Nói cách khác, bạn có quyền tiếp tục yêu cầu người bạn cho vay trả nợ.

Dưới góc độ pháp lý, em họ của người vay tiền của bạn phải thực hiện nghĩa vụ với tư cách người được ủy quyền.

Điều 138: Đại diện theo ủy quyền

“1. Cá nhân, pháp nhân có thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.

3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện”.

Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện được quy định tại Điều 139 của Bộ luật này. Cụ thể:

- Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.

- Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.

- Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối”.

Căn cứ quy định nêu trên, bạn có quyền yêu cầu người em họ của người đã vay tiền bạn trả nợ vì người này đã được ủy quyền thực hiện nghĩa vụ này. Nếu người em trai không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, bạn có thể yêu cầu người vay tiền trả nợ cho mình.Trong trường hợp họ không thực hiện, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án để đòi tiền đã cho vay theo pháp luật tố tụng dân sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Dân sự