1. Người làm công tác pháp chế tại các cơ quan Nhà nước là những ai?
Dựa trên Điều 11 của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, những người đảm nhiệm công tác pháp chế bao gồm:
- Các công chức pháp chế được tuyển dụng và bổ nhiệm tại các tổ chức pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Cán bộ pháp chế được phân công và tuyển dụng vào tổ chức pháp chế tại các đơn vị quân đội nhân dân và công an nhân dân.
- Viên chức pháp chế được tuyển dụng và bổ nhiệm vào tổ chức pháp chế tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Nhân viên pháp chế được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng lao động vào tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp nhà nước.
2. Vị trí, chức năng của tổ chức pháp chế theo quy định
Theo quy định tại Điều 2 của Nghị định 55/2011/NĐ-CP, nhiệm vụ của tổ chức pháp chế được miêu tả như sau:
- Tổ chức pháp chế tại các cơ quan như Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đơn vị chuyên môn, có các chức năng sau đây:
+ Hỗ trợ tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện quản lý nhà nước theo quy định pháp luật trong lĩnh vực ngành được giao.
+ Tổ chức và thực hiện công việc pháp chế như quy định tại Nghị định 55/2011/NĐ-CP.
- Tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp nhà nước là đơn vị chuyên môn, có các nhiệm vụ sau:
Đóng vai trò tham mưu, tư vấn cho Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc của doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
3. Tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế là gì?
Tiêu chuẩn cho người làm công tác pháp chế được quy định tại Điều 12 khoản 1 của Nghị định 55/2011/NĐ-CP, đặc điểm của từng đối tượng được mô tả như sau:
- Công chức pháp chế được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các tổ chức pháp chế tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Phải là công chức từ ngạch chuyên viên hoặc tương đương.
+ Phải có trình độ đại học ngành luật trở lên.
- Viên chức pháp chế được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các tổ chức pháp chế tại các đơn vị sự nghiệp công lập cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
+ Phải có chức danh nghề nghiệp.
+ Phải có trình độ đại học ngành luật trở lên.
- Người đứng đầu tổ chức pháp chế cần thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
+ Phải có trình độ đại học ngành luật trở lên.
+ Phải có ít nhất năm năm kinh nghiệm làm công tác pháp luật.
- Đối với cán bộ pháp chế trong quân đội nhân dân và công an nhân dân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an sẽ căn cứ vào tiêu chuẩn của công chức và viên chức pháp chế được quy định tại điểm a và điểm b, khoản 1 của Điều 12 Nghị định 55/2011/NĐ-CP, để hướng dẫn cụ thể về các tiêu chuẩn.
4. Chế độ của người làm công tác pháp chế
Cũng trong Điều 12 của Nghị định 55/2011/NĐ-CP, khoản 2 và khoản 3 thể hiện các chính sách đối với người làm công tác pháp chế như sau:
- Công chức, cán bộ và viên chức pháp chế theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều 11 Nghị định 55/2011/NĐ-CP được hưởng các phụ cấp ưu đãi theo chuyên ngành của mình.
- Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trong việc xây dựng và đề xuất chế độ phụ cấp ưu đãi theo ngành nghề đối với những người làm công tác pháp chế. Đề xuất này sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và ban hành.
- Các doanh nghiệp nhà nước được phép áp dụng tiêu chuẩn và chế độ của người làm công tác pháp chế được quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều 12 Nghị định 55/2011/NĐ-CP để lựa chọn, bố trí, sử dụng và quyết định các chính sách đối với nhân viên pháp chế.
5. Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ
Dựa trên Điều 3 của Nghị định 55/2011/NĐ-CP (được sửa đổi và bổ sung bởi Khoản 2 của Điều 8 Nghị định 92/2017/NĐ-CP), nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức pháp chế tại Bộ và các cơ quan ngang Bộ được quy định như sau:
- Về công tác xây dựng pháp luật:
+ Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan để lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ gửi Bộ Tư pháp để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Tổ chức cũng phụ trách việc hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo tình hình thực hiện các chương trình này.
+ Đề xuất và tổ chức kế hoạch xây dựng pháp luật dài hạn, hàng năm của Bộ và các cơ quan ngang Bộ. Sau khi kế hoạch được phê duyệt, tổ chức phải hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo tiến độ thực hiện.
+ Tham gia soạn thảo và thẩm định các văn bản quy phạm pháp luật theo phân công của cấp trên.
+ Tổ chức thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình cấp quyết định ký ban hành.
+ Phối hợp với các đơn vị liên quan để chuẩn bị hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất tham gia góp ý hoặc thẩm định trước khi trình cấp quyết định.
- Về công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật:
+ Chủ trì và phối hợp để xây dựng kế hoạch rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ và các cơ quan ngang Bộ. Sau khi kế hoạch được phê duyệt, tổ chức phải hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo tiến độ thực hiện.
+ Thực hiện rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ và các cơ quan ngang Bộ theo kế hoạch được phê duyệt.
+ Định kỳ trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật và phương án xử lý các quy phạm pháp luật không phù hợp.
+ Lập báo cáo kết quả công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và trình cấp trên tổng hợp, báo cáo Chính phủ.
+ Thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ và các cơ quan ngang Bộ theo quy định của pháp luật.
- Đối với công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật:
Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan, tổ chức hỗ trợ Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc kiểm tra và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với công tác phổ biến và giáo dục pháp luật:
+ Chủ trì việc lập kế hoạch và chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật dài hạn, hàng năm, và sau khi được phê duyệt, tổ chức thực hiện.
+ Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan để tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về ngành, lĩnh vực quản lý. Hướng dẫn và kiểm tra công tác này tại các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
+ Thực hiện kiểm tra, sơ kết và tổng kết tình hình thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật định kỳ 6 tháng, hàng năm, và báo cáo kết quả cho Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
+ Xây dựng báo cáo về kết quả công tác này và trình Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ gửi Bộ Tư pháp tổng hợp và báo cáo Chính phủ định kỳ 6 tháng, hàng năm.
- Đối với công tác theo dõi và kiểm tra thi hành pháp luật:
Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan để hỗ trợ Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc thực hiện công tác kiểm tra, theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của pháp luật.
- Đối với công tác bồi thường của Nhà nước:
Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan để hỗ trợ Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của pháp luật.
- Đối với công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp:
Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan để tổ chức hoặc tham gia vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thuộc trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của pháp luật.
- Đối với công tác tham mưu về các vấn đề pháp lý và tham gia tố tụng:
+ Tham gia cung cấp ý kiến pháp lý về xử lý các vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ; tham gia vào việc đưa ra ý kiến pháp lý về các quyết định, văn bản chỉ đạo quan trọng của Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
+ Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc tham mưu về các vấn đề pháp lý khi tham gia vào các vụ án nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của pháp luật.
+ Điều hành hoặc hợp tác với các đơn vị liên quan trong việc xử lý, đề xuất và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả của các vi phạm pháp luật, nội quy, quy chế theo sự phân công của Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
- Đối với hướng dẫn chuyên môn và nghiệp vụ trong công tác pháp chế:
Hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác pháp chế đối với tổ chức pháp chế ở các Tổng cục và tương đương, Cục thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các doanh nghiệp mà Bộ, cơ quan ngang Bộ đại diện chủ sở hữu phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.
- Đối với thi đua khen thưởng trong công tác pháp chế:
Phối hợp với các đơn vị liên quan để đề xuất việc khen thưởng cho Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, hoặc để Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng đối với cá nhân hoặc tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác pháp chế.
- Đối với hợp tác với nước ngoài về pháp luật:
Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan để thực hiện các chương trình kế hoạch hoặc dự án hợp tác với nước ngoài về pháp luật theo sự phân công của Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao hoặc theo quy định của pháp luật bởi Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
Bài viết liên quan: Pháp chế doanh nghiệp là gì? Nhiệm vụ và vai trò của pháp chế doanh nghiệp
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế nhà nước theo quy định hiện hành. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!