Tôi muốn luật sư giải đáp cụ thể các vấn đề sau:

1. Khái niệm tố giác tội phạm hiện hành và nghĩa vụ tố giác thân chủ của luật sư có gì khác nhau ?

2. Tại sao luật sư lại phải tố giác thân chủ ? 

3. Luật ở các quốc gia hiện đại quy định thế nào về vấn đề trên ?

Rất mong luật Minh Khuê tư vấn hoặc cung cấp các thông tin pháp lý khách quan để tôi tìm hiểu thêm và được rõ ràng hơn về quy định này. Xin cảm ơn! (Người hỏi: Đ.Q.Sang - TP Vinh, tỉnh Nghệ An).

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn Bạn Đ.Q.Sang đã quan tâm và gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê, đúng là vấn đề Bạn quan tâm là một trong những vấn đề "nóng" trong thời gian qua. Nó HOT không chỉ trong giới luật sư mà HOT cả trên nghị trường họp của Quốc hội. Trong phạm vi hiểu biết của minh Luật Minh Khuê đưa ra một số ý kiến pháp lý căn bản dựa trên câu hỏi của Anh.

Vấn đề thứ nhất, về lịch sử hình thành và phát triển khái niệm tố giác tội phạm được quy định trong các bộ luật tố tụng hình sự và bộ luật hình sự trước đây của Việt Nam.

+ Khoản 2, điều 3 Luật hình sự năm 1999 quy định về nguyên tắc xử lý "Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra."

+ Điều 22, luật hình sự năm 1999quy định về Không tố giác tội phạm:

1. Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà , cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này.

+ Trách nhiệm hình sự đối với tội danh này được quy định cụ thể tại điều 314, luật hình sự năm 1999:

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ôông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị e m ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

+ Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 sau đó không có thay đổi nào về vấn đề tố giác tội phạm theo quy định của luật hình sự năm 1999 trước đó.

+ Tại điểm đ, khoản 1, điều 3 Luật hình sự năm 2015 vẫn giữ nguyên nguyên tắc xử lý theo luật hình sự năm 1999 là "Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;"

+ Quy định không tố giác tội phạm được quy định rõ tại điều 19, luật hình sự năm 2015, cụ thể:

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

3. Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy ðịnh tại khoản 1 Ðiều này trong trừờng hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

>> Như vậy, so với luật hình sự năm 1999 thì luật hình sự năm 2015 có một thay đổi lớn trong khoản 3 điều 19 quy định rõ "Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự" khi không tố giác "người mà mình bào chữa" tức là thân chủ của mình (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác).

Dự thảo bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2015 đã được quốc hội thông qua với 88% số phiếu tán thành thì nội dung khoản 3 này được sửa như sau:

"Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa”.

Luật sư trong trường hợp không tố giác thân chủ khi "biết rõ" thân chủ vi phạm các quy định theo luật hình sự sẽ đối diện với nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều Điều 390. Tội không tố giác tội phạm của bộ luật hình sự năm 2015.

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

>> Như vậy, Chúng ta thấy quy định đã đảo ngược 180 độ Từ không phải chịu thành phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là vấn đề mấu chốt dẫn đến sự tranh luận có phần gay gắt của giới luật sư và các nhà làm luật.

QUAN ĐIỂM ỦNG HỘ

(TRUY TỐ LUẬT SƯ KHI KHÔNG TỐ GIÁC), Cho rằng

QUAN ĐIỂM PHẢN ĐỐI

(VIỆC TRUY TỐ LUẬT SƯ KHI KHÔNG TỐ GIÁC), Cho rằng:

1. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (theo hiến pháp). Luật sư là công dân do vậy ông cũng có nghĩa vụ như những công dân khác -> Thấy sai/thấy phạm luật thì phải tố giác (Không tố giác thì phải chịu TNHS). 1. Nghề luật sư là một nghề đặc biệt và mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng cũng là một mối quan hệ đặc biệt. Luật Sư có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi ích của khách hàng và không thể "tố giác" khách hàng của mình vì như thế không còn là bào chữa nữa mà là buộc tội. Trách nhiệm buộc tội thuộc về Cơ quan nhà nước/trách nhiệm của luật sư là gỡ tội/giảm tội cho khách hàng.
2. Sẽ thống nhất các quy định khi luật này thông qua. Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng cho biết, qua tham khảo kinh nghiệm của một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, Đức, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Canada, Tây Ban Nha..., các nước này đều quy định trong những trường hợp nhất định luật sư được tiết lộ thông tin về thân chủ của mình trong quá trình hành nghề để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của xã hội, cộng đồng nhằm ngăn chặn hậu quả của tội phạm. 2. Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm và cho rằng, quy định này xung đột với điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự quy định người bào chữa “không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa” và không tương thích với thông lệ quốc tế; không bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; không phù hợp với tính chất đặc thù của nghề luật sư, có thể dẫn đến mất niềm tin của thân chủ đối với luật sư...

Viết đến đây với tư cách là một luật sư, tôi tự nhiên muốn dừng lại và không muốn nói gì thêm... thôi thì "chiếc áo không làm nên thầy tu" nghe đâu đó Anh Em muốn bỏ nghề... nhưng hãy nghĩ lại - Mình làm tốt thì không lo thân chủ phụ. Cố lên Anh Em! Luật đã thông qua rồi.

Một chút phân tích, chia sẻ nhằm cung cấp thêm thông tin pháp lý cho Bạn, thiết nghĩ mọi quy định cũng sẽ thay đổi theo thời gian và thời kỳ nhằm phù hợp với sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội. Một quy định có thể nâng tầm một mối quan hệ và ngược lại!

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật sư: Lê Minh Trường - Giám đốc điều hành Công ty luật Minh Khuê