Câu hỏi trắc nghiệm: Người từ 14 đến dưới 16 tuổi thực hiện phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự với bao nhiêu tội danh theo Chương XXI của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
A. 5
B. 7
C. 9
D. 11
Phương án đúng là c Bởi vì:
Căn cứ Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Chương XXI gồm có 09 tội danh (Điều 265, Điều 266 và từ Điều 286 đến Điều 290, Điều 299, Điều 303, Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết và mang tính tổng quan hơn về các tội danh mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm theo luật hình sự, như sau:
1. Độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự?
Căn cứ quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mỗi công dân như sau:
- Công dân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự cho mọi loại tội phạm mà họ gây ra.
- Công dân từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù), tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình) tại các tội như tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi,...
Đối với một tội danh có nhiều khoản, mà mỗi khoản lại quy định một khung hình phạt khác nhau (từ loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng.
- Ví dụ, tội cố ý gây thương tích theo Điều 134), công dân từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm của họ rơi vào các khoản 3,4 (tội phạm rất nghiêm trọng), khoản 5 (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng); không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi phạm tội của họ rơi vào các khoản 1,2 (tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng).
2. Các tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự?
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội quy định tại một trong các điều sau đây:
- Điều 123 (tội giết người);
- Điều 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác)
- Điều 141 (Tội hiếp dâm)
- Điều 142 (Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi)
- Điều 143 (tội cưỡng dâm);
- Điều 144 (Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Điều 150 (tội mua bán người);
- Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);
- Điều 168 (Tội cướp tài sản)
- Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản)
- Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản);
- Điều 171 (tội cướp giật tài sản);
- Điều 173 (tội trộm cắp tài sản);
- Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
- Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy);
- Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy);
- Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy);
- Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy);
- Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
- Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép);
- Điều 266 (tội đua xe trái phép);
- Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật);
- Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử);
- Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử);
- Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tửu của người khác);
- Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);
- Điều 299 (tội khủng bố);
- Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia);
- Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).
Do đó, các tội danh người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng cộng 29 tội danh được quy định trong Bộ luật hinh sự năm 2015.
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi khoản 2, điều 12 như sau:
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 12 như sau:
“2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”.
Như vậy, đối chiếu với các quy định của luật hình sự năm 2017 sửa đổi thì đã loại đi 01 tội danh là: Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật). Như vậy, chỉ còn tổng cộng 28 tội danh phải chịu trách nhiệm đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi.
3. Các nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội
Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 7 nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó thứ nhất là nguyên tắc xử lý chung, thứ hai là nguyên tắc miễn trách nhiệm hình sự, thứ ba là nguyên tắc vừa miễn trách nhiệm hình sự vừa quyết định hình phạt, còn nguyên tắc thứ tư, thứ năm và thứ sáu là nguyên tắc quyết định hình phạt, nguyên tắc thứ bảy là tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Cụ thể như sau:
- Nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi phạm tội và việc xử lý chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh:
Đây là nguyên tắc mới được xác định trong Bộ luật hình sự năm 2015. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiến hành hoạt động xử lí người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định được đưa ra là tốt nhất cho họ, trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác, cũng như bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật.
- Nguyên tắc chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp cần thiết và phải căn cứu vào đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu phòng ngừa tội phạm:
Điều cần chú ý ở nguyên tắc này là việc nhà làm luật xếp đặc điểm thuộc về nhân thân lên trước rồi mới đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và cuối cùng là yêu cầu phòng, chống tội phạm. Như vậy, ngay cả khi hành vi đã cấu thành một tội phạm cụ thể nhưng xét thấy đặc điểm về nhân thân là không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự như: phạm tội lần đầu, phạm tội trong trường hợp bị người khác ép buộc, xúi giục hoặc rủ rê thì cũng có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị áp dụng các biện pháp có tính chất giám sát, giáo dục. Ngược lại, đối với trường hợp tái phạm nhiều lần, trước đó đã từng bị áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc cố ý phạm tội đến cùng thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ.
- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp giáo dục không đạt hiệu quả:
Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức thiết thực trong việc định hướng cho thẩm phán khi cân nhắc, lựa chọn giữa các chế tài để ưu tiên áp dụng các biện pháp tư pháp và chế tài không tước tự do. Hình phạt tù có thời hạn chỉ được áp dụng trong trường hợp nhận thấy việc áp dụng các hình phạt không tước tự do là không thích hợp, không vì lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi. Đồng thời, thời hạn tù cần được xác định sao cho vừa đủ để giáo dục, phục hồi đối với người dưới 18 tuổi trên cơ sở cân nhắc toàn diện điều kiện và hoàn cảnh phạm tội cũng như nhân thân của họ.
- Không áp dụng các hình phạt tử hình, tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; hạn chế áp dụng hình phạt tù có thời hạn và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:
Nguyên tắc này cụ thể hóa nguyên tắc "việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục". Theo đó, cần phải cấm áp dụng hình phạt tử hình và hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vì đây là 2 hình phạt đặc biệt nghiêm khắc (một hình phạt có nội dung loại trừ người phạm tội khỏi đời sống xã hội và một hình phạt có nội dung cách li người phạm tội khỏi môi trường xã hội không thời hạn). Để phù hợp với nguyên tắc "chủ yếu nhằm mục đích giáo dục" cũng cần hạn chế áp dụng hình phạt tù có thời hạn cũng như không được áp dụng thêm hình phạt bổ sung.
- Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:
Thể hiện nội dung nhân đạo của chính sách hình sự, tạo điều kiện cho người phạm tội cải tạo tốt, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết bán về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương XII không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm./.
Mọi vướng mắc bạn đọc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tiếp qua tổng đài 24/7 thông qua số hotline: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Xin chân thành cảm ơn!