1. Đặc điểm tự nhiên vùng văn hóa Nam Bộ
Nam Bộ hôm nay là địa bàn thuộc lãnh thổ của các tỉnh Đồng Nai; Bình Dương; Bình Phước; Tây Ninh; Bà Rịa- Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Long An; Tiền Giang; Bến Tre; Vĩnh Long; Trà Vinh; Đồng Tháp; Cần Thơ; Sóc Trăng; An Giang; Kiên Giang; Bạc Liêu và Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh.
Phần đất được coi là Đông Nam Bộ có diện tích khoảng 26000km2 bao gồm phần đất đồi núi thấp (phần rìa của cao nguyên đất đỏ) và phần thềm phù sa cổ thuộc lưu vực sông Đồng Nai.
Phần đất được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng hơn 4000km2; chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long cùng một vài dãy núi thấp ở miền Tây An Giang; Kiên Giang.
Về vị trí địa lí; Nam Bộ là vùng đất nằm ở cuối cùng đất nước về phía Nam; trọn vẹn trong lưu vực của hai dòng sông Đồng Nai và Cửu Long; mà lại là phần hạ lưu của hai dòng sông. Trong khi đó; Nam Bộ lại gần biển Đông. Nói khác đi; đây là vùng đất cửa sông giáp biển. Vị thế địa- văn hoá này của Nam Bộ tạo cho nó có những đặc điểm văn hoá riêng.
Mặt khác; khí hậu của Nam Bộ khác hẳn khí hậu Bắc Bộ ở chỗ Nam Bộ chỉ có hai mùa: mùa khô và mùa mưa; sáu tháng mùa mưa; sáu tháng mùa khô tạo cho vòng quay thiên nhiên; mùa vụ có phần khác biệt so với đồng bằng Bắc Bộ.
Nói tới Nam Bộ là người ta nói đến cánh đồng tít tắp chân trời; một khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt và vùng đất với chằng chịt kênh rạch. GS. Lê Bá Thảo đã tính Nam Bộ có tới 5700km đường kênh rạch. Sông nước ở hạ lưu chảy chậm; mang lượng phù sa lớn khác với sông nước miền Trung Bộ.
Nét đáng lưu ý khi xem xét môi trường xã hội ở đây là làng Việt Nam Bộ có những nét khu biệt khi đặt trong tương quan với làng Việt Nam Bộ. Có thể thấy một cách sơ khởi những nét đặc thù ấy như sau: Trước hết tuổi đời làng Việt Nam Bộ còn ngắn; chừng 400 năm là cùng. Khác với làng Việt Bắc Bộ vốn có gốc gác là các công xã nông thôn; làng Việt Nam Bộ là làng khai phá.
Cư dân từ nhiều nguồn; nhiều phương trời hội tụ lại; vì thế làng Việt Nam Bộ sẽ không có chất kết dính chặt chẽ; quan hệ dòng họ sẽ khác với chính nó ở đồng bằng Bắc Bộ. Mặt khác; sự cư trú của cư dân Nam Bộ không thành một đơn vị biệt lập với rặng tre quanh làng như đồng bằng Bắc Bộ mà cư trú theo tuyến; theo kiểu toả tia dọc theo hai bên bờ kinh rạch; trục lộ giao thông.
2. Đặc điểm văn hoá vùng văn hóa Nam Bộ
Một trong những đặc trưng đầu tiên và dễ nhận thấy của văn hóa Nam Bộ là tốc độ giao lưu văn hóa diễn ra nhanh chóng. Sự tiếp xúc với những nền văn minh khác nhau đã tạo cho văn hóa Nam Bộ tính chất cởi mở và hướng ngoại. Điều này đã ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của đời sống tại đây, từ ẩm thực, trang phục, âm nhạc đến tôn giáo và tư tưởng.
Tuy nhiên, văn hóa Nam Bộ vẫn giữ được sự đa dạng và sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống của các tộc người gốc, bao gồm người Việt, Hoa và Khmer, với các yếu tố văn hóa mới sinh ra từ điều kiện tự nhiên và lịch sử vùng đất mới. Những yếu tố này thể hiện ở cả đời sống vật chất và tinh thần của người dân tại đây.
Về mặt vật chất, điều kiện tự nhiên của Nam Bộ đã tạo ra nền kinh tế phát triển, với nhiều ngành nghề sản xuất và thương mại phát triển. Ngoài ra, các nét văn hóa đặc trưng của Nam Bộ cũng được thể hiện qua nghệ thuật truyền thống, kiến trúc độc đáo, và cách sống của người dân tại đây.
Nói đến nền văn hoá Nam Bộ là nói đến văn hoá của các tộc người ở đây. Ngoại trừ các tộc người sống ở ven đồng bằng miền đông; các tộc người Việt; Khơme; Chăm; Hoa đều không phải là cư dân bản địa ở đây. Vì vậy; văn hoá của họ là văn hoá ở vùng đất mới.
Gần như là một quy luật; văn hoá của lưu dân vùng đất mới dù là của tộc người nào cũng đều là sự kết hợp giữa truyền thống văn hoá trong tiềm thức; trong dòng máu và điều kiện tự nhiên; lịch sử của vùng đất mới; nó phát triển trong điều kiện cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian.
Nói khác đi là; những loài cây quen thuộc của vùng đất cũ được đem cấy trồng ở vùng đất mới. Cho nên; văn hoá ở vùng đất này; vừa có nét giống; lại vừa có nét khác với nền văn hoá ở vùng đất cội nguồn; của cùng một tộc người.
Đặc điểm thứ hai của vùng văn hoá Nam Bộ là quá trình giao lưu văn hoá diễn ra với một tốc độ mau lẹ. Thực ra; nếu xét một cách nghiêm ngặt về lịch sử; vùng đất này mới có tuổi đời chừng 300 năm. Thế nhưng trong một khoảng thời gian rất ngắn ấy; văn hoá Nam Bộ đã định hình rõ những đặc trưng vùng của mình. Nhiều nhân tố tạo ra điều này; nhưng không thể không thừa nhận tác động của quá trình tiếp biến văn hoá. Sự tiếp biến xảy ra trước hết giữa các tộc người cùng sinh sống trong một địa bàn.
Mặt khác; Nam Bộ là vùng có nhiều tôn giáo tín ngưỡng cùng đan xen tồn tại. Nói khác đi là diện mạo tôn giáo tín ngưỡng Nam Bộ khá đa dạng và phức tạp. Ngoài các tôn giáo lớn ở ngoài du nhập vào như Phật giáo; Công giáo; Tin lành; Hồi giáo; Nam Bộ còn là quê hương của tôn giáo tín ngưỡng địa phương như Cao đài; Hoà hảo; như các ông đạo; các tín ngưỡng dân gian như thờ Tổ tiên; Thổ thần; thờ Thàng hoàng; thờ Mẫu; thờ Neaktà; Arăk…
Bản thân từng tôn giáo ở Nam Bộ cũng khá đa dạng. Bên cạnh Phật giáo Tiểu thừa lại có Phật giáo Đại thừa. Với các tín ngưỡng dân gian; điều kiện lịch sử tự nhiên vùng đất mới đã khiến nó có những nét khác biệt ; tuy rằng chúng đi ra từ một nguồn cội là đồng bằng Bắc Bộ. Xin đơn cử tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ đã có những nét khác biệt; điện thần phong phú hơn; nghi lễ thờ cúng cũng có sự khác biệt. Hiện tượng các ông đạo như đạo Ngồi; đạo Nằm; đạo đi Chậm; đạo Câm; đạo Dừa;… có thể coi như một hình tượng riêng biệt của tôn giáo tín ngưỡng Nam Bộ. Các ông đạo có thể có nguồn gốc khác nhau; có người có chút ít điền sản; có người lại không có tấc đất cắm dùi.
Biểu hiện đạo của từng ông không giống nhau; có ông chỉ ngồi; có ông chỉ nằm; có ông nói những câu khó hiểu;… nhưng các ông đều có sự thống nhất. Đó là từ cuộc sống bình thường của người nông dân; họ chuyển qua cuộc sống của các ông đạo với những biểu hiện không bình thường. Trong khi đó; những người nông dân xung quanh không lấy các biểu hiện không bình thường đó để đùa cợt hay báng bổ; ngược lại họ cho đó là bình thường. Một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến hiện tượng này và họ cho rằng có một sự hẫng hụt tâm lí của người dân trong vùngvà một thứ chủ nghĩa tiên tri tồn tại ở Nam Bộ.
Tóm lại; văn hoá Nam Bộ có nhiều nét riêng so với vùng khác. Vùng đất vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của văn hoá Việt Nam; lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc người ở đây. Vị thế địa chính trị; địa văn hoá của Nam Bộ khiến nó trở thành trung tâm mà quá trình tiếp biến văn hoá diễn ra nhanh chóng cả về bề mặt lẫn bề sâu; cả về lượng và chất; tạo cho vùng văn hoá Nam Bộ có những đặc thù riêng và trở thành một gương mặt riêng khó lẫn trong diện mạo các vùng văn hoá ở nước ta.
3. Di tích lịch sử và danh thắng của vùng văn hóa Nam bộ
- 10 Di tích tiêu biểu:
+ Địa điểm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút
+ Các di tích liên quan đến khởi nghĩa Trương Định
+ Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
+ Bến nhà Rồng
+ Nhà tù Côn Đảo
+ Căn cứ Trung ương miền Nam
+ Di tích Đồng Khởi Bến Tre
+ Địa đạo Củ Chi
+ Dinh Độc Lập
+ Khu di tích nhà mộ Ba Chúc
- 6 Di tích tôn giáo tín ngưỡng:
+ Chùa Tây An ở Núi Sam
+ Chùa Dơi
+ Chùa Vĩnh Tràng
+ Miếu Thiên Hậu
+ Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn
+ Tòa Thánh Tây Ninh - Di chỉ khảo cổ học:
+ Các di tích thuộc Văn hóa khảo cổ Đồng Nai
+ Các di tích thuộc Văn hóa khảo cổ Óc Eo - 9 Danh thắng:
+ Núi Sập
+ Núi Đá Dựng
+ Vườn chim Vàm Hồ
+ Quần thể danh thắng Hòn Chông
+ Núi Bà Rá – hồ Thác Mơ
+ Vườn quốc gia Tràm Chim
+ Đảo ngọc Phú Quốc
+ Vườn quốc gia U Minh Thượng
+ Chợ nổi Cái Răng
Xem thêm: Vùng văn hóa là gì? Các vùng văn hóa ở Việt Nam hiện nay?