Thưa luật sư,

Em có tình huống đang cần công ty tư vấn để làm bài tốt hơn, mong sớm nhận được câu trả lời của công ty. H là cán bộ hải quan làm việc tại cửa khẩu tỉnh Q. Một lần H kiểm tra hàng nhập khẩu vào Việt Nam thì phát hiện số lượng hàng vượt quá rất nhiều so với số lượng theo hóa đơn. Chủ hàng là Y đã gọi H ra một chỗ trao đổi riêng. Y đưa cho H một chiếc phong bì trong có chứa 10 triệu đồng và đề nghị H bỏ qua cho số hàng vượt quá so với hoá đơn. H nhận tiền và đồng ý cho Y mang hàng đi. Hành vi của Y là phạm tội buôn lậu theo Điều 153 BLHS. Câu hỏi:

1. Số tiền Y đưa cho H là đối tượng tác động của tội phạm hay là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ?

2. H có phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu không? Tại sao?

3. Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với hành vi buôn lậu của Y được thực hiện dưới hình thức hành động hay không hành động?

4. Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của H, H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì H có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao?

Em xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến:     1900.6162

Trả lời:

>> Xem thêm:  Như thế nào là phạm tội lần đầu ? Hình phạt khi phạm tội lần đầu

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ 2009.

Nội dung trả lời:

1. Số tiền Y đưa cho H là phương tiện phạm tội, vì:

Đối tượng tác động của tội phạm là vật thể không mang tính giai cấp. Đối tượng tác động của tội phạm khác công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm. Đối tượng tác động của tội phạm là đối tượng chịu sự tác động của hành vi phạm tội, còn công cụ phương tiện phạm tội là những công cụ, phương tiện được người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội, để tác động đến đối tượng tác động của tội phạm. Công cụ, phương tiện của tội phạm có tác dụng hỗ trợ cho việc phạm tội thuận lợi.

Ở đây số tiền mà Y đưa cho H là phương tiện được người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội để tác đội đến đối tượng tác động của tội phạm.

Đưa hối lộ: là hành vi đưa ( trực tiếp hoặc qua trung gian) lợi ích vật chất ( của hối lộ) cho người có chức vụ quyền hạn do muốn người này sử dụng chức vụ quyền hạn làm hoặc không làm một việc có lợi cho mình hoặc theo yêu cầu của mình.(3) Hành vi đưa hối lộ của Y đã CTTP vì giá trị vật chất mà Y đưa cho H là 10 triệu đồng. 
Giả sử, Số tiền Y đưa cho H là đối tượng tác động của tội phạm, tức là số tiền này phải là một bộ phận của khách thể nhưng khi xác định khách thể của tội phạm này thì tiền không phải là một trong số những yếu tố cấu thành hay tồn tại bên trong khách thể của tội phạm, do đó chắc chắn số tiền 10 triệu đồng Y đưa cho H không phải là đối tượng tác động của tội đưa hối lộ này. Mặt khác, chủ thể của hành vi đưa hối lộ ( tức Y ) có hành vi đưa lợi ích vật chất – của hối lộ ( cụ thể theo bài ra là 10 triệu đồng ) cho H – người có chức vụ quyền hạn để nhờ H bỏ qua cho số hàng bị vượt quá so với hóa đơn. Thì lợi ích vật chất ( 10 triệu đồng ) chỉ là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ mà Y có hành vi thực hiện. Như vậy, ta khẳng định số tiền Y đưa cho H là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ.

Y đã phạm tội đưa hối lộ quy định tại điều 289 BLHS 1999. Vì đáp ứng đủ cấu thành tội phạm của tội danh trên. Cụ thể như sau :
• Về chủ thể : chủ thể thường ( người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định );
• Về khách thể : quan hệ xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy tín của nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
• Mặt khách quan:
- Hành vi : đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người có chức vụ, quyền hạn để yêu cần người đó thực hiện hành vi mình mong muốn. Có thể đưa trực tiếp hoặc qua trung gian;
- Của hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau :
+ Gây hậu quả nghiêm trọng;
+ Vi phạm nhiều lần.
• Mặt chủ quan : Lỗi cố ý trực tiếp.
Như vậy, Y sẽ bị kết án về tội đưa hối lộ theo khoản 2- điều 289 Bộ luật hình sự 1999 ( do của hối lộ có giá trị là 10 triệu đồng ).
Trong tình huống trên, số tiền mà Y đưa cho H là phương tiện của tội phạm, đối tượng của tội phạm là hành vi đúng đắn của cơ quan nhà nước.

>> Xem thêm:  Đào ngũ bị xử lý như thế nào theo quy định mới của pháp luật ?

2. H không phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu. Vì:

Khái niệm đồng phạm được quy định tại Khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự : “ Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Như vậy, thứ nhất, đồng phạm phải có ít nhất từ hai người trở lên, có đủ dấu hiệu về chủ thể chủ thể của tội phạm như về năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự

Thứ hai, đồng phạm là gồm nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm . Như vậy, hành vi phạm tội của mỗi người là cố ý và có sự liên quan, phối hợp chăt chẽ với nhau mà không hề tách rời nhau. Nếu có nhiều người phạm tội nhưng không cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì không gọi là đồng phạm.

Ở đây H và Y đều phạm tội nhưng không cố ý cùng thực hiện tội buôn lậu nên H không phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu.

Hành vi của H đã cấu thành tội nhận hối lộ quy định tại điều 279 Bộ luật hình sự 1999. Vì: 
Tội nhận hối lộ :
• Về chủ thể : Chủ thể đặc biệt ( người có chức vụ, quyền hạn );
• Về khách thể : quan hệ xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy tín của nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
• Về mặt khách quan :
- Hành vi : lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác để thực hiện một yêu cầu của người khác;
- Tiền, tài sản, các lợi ích vật chất ở đây có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau nhưng phải có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau :
+ Gây hậu quả nghiêm trọng;
+ Đã bị xử lí kỷ luật về hành vi này mà vẫn còn vi phạm;
+ Đã bị kết án về một trong số tội phạm thuộc mục các tội phạm về tham nhũng theo Bộ luật hình sự 1999, chưa được xóa án tích.
- Tội phạm được hoàn thành khi :
+ Thời điểm người có chức vụ quyền hạn tỏ rõ thái độ đòi hỏi để làm hoặc không làm một việc gì đó và người hối lộ chấp nhận đòi hỏi đó trong trường hợp người có chức vụ, quyền hạn chủ động đòi hối lộ;
+ Thời điểm người có chức vụ quyền hạn nhận của hối lộ ( đã hoặc hứa sẽ thực hiện yêu cầu của người đưa hối lộ ) trong trường hợp người nhận hối lộ không chủ động đòi hối lộ.
• Về mặt chủ quan : Lỗi cố ý trực tiếp.
Như vậy, H có thể bị kết án về tội nhận hối lộ theo khoản 2 điều 279 Bộ luật hình sự 1999 ( do của hối lộ có giá trị 10 triệu đồng ).
3. Hành vi của H bỏ qua không xử lí theo pháp luật hành vi của Y là thể hiện dưới dạng không hành động.
4. Trong trường hợp này, H có thể bị kết án về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo điều 281 Bộ luật hình sự 1999 nếu có hậu quả xảy ra. Vì :
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ :
• Chủ thể : chủ thể đặc biệt ( người có chức vụ, quyền hạn )
• Khách thể : quan hệ xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy tín của nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
• Mặt khách quan :
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ;
- Làm trái công vụ có thể là không làm trong trường hợp phải làm và có điều kiện để làm hoặc làm không đầy đủ hoặc làm ngược lại quy định hoặc yêu cầu của công vụ;
- Phải có hậu quả xảy ra. Hậu quả ở đây có thể là thiệt hại về vật chất,danh dự, nhân phẩm, uy, sức khỏe, tính mạng của cá nhân hoặc uy tín, tài sản của nhà nước. 
• Mặt chủ quan : Lỗi cố ý.
Ở đây, H là cán bộ hải quan làm việc ở cửa khẩu tỉnh Q ( tức là người có chức vụ, quyền hạn ) đã vì sợ Y tố cáo hành vi đánh bạc của mình nên đã cố ý không thực hiện công vụ của mình dù đó là việc phải làm và có điều kiện để thực hiện. Như vậy, H có thể bị kết án về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo điều 281 Bộ luật hình sự 1999 trong trường hợp có hậu quả xảy ra.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

>> Xem thêm:  Mẫu đơn bãi nại vụ án hình sự, giảm nhẹ hình phạt mới nhất 2020

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn luật hình sự.