- 1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm là gì? Ví dụ và cách áp dụng
- 2. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- 3. Phân biệt tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tính tiết định khung, định tội
- 4. Phân tích nguyên tắc một tình tiết tăng nặng không thể áp dụng hai lần
- 5. Vướng mắc, bất cập và đề xuất hoàn thiện
1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm là gì? Ví dụ và cách áp dụng
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, được Tòa án sử dụng để quyết định một mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội.
Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đây là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án cá thể hóa hình phạt, đảm bảo mức án được tuyên tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi.
Một số ví dụ về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bao gồm:
- Phạm tội có tổ chức.
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
- Phạm tội 02 lần trở lên.
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm...
Một nguyên tắc quan trọng trong việc áp dụng là các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Các yếu tố khác ảnh hưởng đến quyết định hình phạt: Ngoài các tình tiết tăng nặng chính thức, quyết định hình phạt của Tòa án còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ các yếu tố "phi chính thức" hay các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thái độ của người phạm tội tại phiên tòa, đặc biệt là việc thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được Hội đồng xét xử xem xét rất kỹ lưỡng. Tương tự, việc người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức hình phạt cuối cùng.
Những yếu tố này, mặc dù không làm tăng nặng hình phạt, lại giúp Tòa án cá thể hóa mức án một cách nhân đạo và công bằng hơn. Chúng cho phép Hội đồng xét xử đánh giá không chỉ hành vi phạm tội mà còn cả thái độ và sự ăn năn của người phạm tội, từ đó đưa ra một bản án phù hợp với mục đích giáo dục và phòng ngừa tội phạm của hình phạt.
Như vậy, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đóng vai trò quan trọng trong việc cá thể hóa hình phạt, đảm bảo mức hình phạt được áp dụng tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ngoài ra, BLHS cũng quy định các tình tiết tăng nặng riêng áp dụng đối với pháp nhân thương mại tại Điều 85, như "câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội", "cố ý thực hiện tội phạm đến cùng" hoặc "phạm tội 02 lần trở lên".
2. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Nội dung Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi tại điểm b Điều 2 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:
"Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Phạm tội có tính chất côn đồ;
đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;
e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
g) Phạm tội 02 lần trở lên;
h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;
k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;
n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng."
Luật Minh Khuê giải thích chi tiết các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015 như sau:
Phạm tội có tổ chức: Theo điểm a khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 được hiểu là hình thức đồng phạm đặc biệt được ghi nhận tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015 về đồng phạm. Theo quy định này, đây là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Hình thức đồng phạm này cho phép những người tham gia có khả năng cao để phạm tội liên tục, nhiều lần, gây ra những hậu quả lớn, rất lớn và đặc biệt lớn cho xã hội. Chính vì vậy, đây được coi là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mức độ tăng nặng phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như quy mô của tội phạm mà những người đó thực hiện, mức độ câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm và vai trò cụ thể của từng người.
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Đây là trường hợp phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và việc phạm tội là nguồn sống, nguồn thu nhập chính của họ. Trường hợp phạm tội này thể hiện tính nguy hiểm cao hơn so với những trường hợp phạm tội thông thường, vì vậy được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc xử lí được nêu tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 là nghiêm trị người phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp”.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội: Theo điểm c khoản 1, điều 53, BLHS năm 2015 thì đây là tình tiết thể hiện việc sử dụng chức vụ, quyền hạn như một thủ đoạn để người phạm tội thực hiện tội phạm. Trong phạm vi chức vụ, quyền hạn của mình, người phạm tội có được uy tín, sự ảnh hưởng đối với người khác, vì vậy họ đã lợi dụng điều này để thực hiện tội phạm, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân gây ảnh hưởng đến uy tín của người cán bộ, uy tín của Nhà nước. Do đó, trường hợp phạm tội này cần phải được tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức độ tăng nặng phụ thuộc vào tầm quan trọng của chức vụ, quyền hạn và mức độ lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó của người phạm tội.
Phạm tội có tính chất côn đồ: Theo điềm d khoản 1, điều 53, BLHS năm 2015 thì được hiểu là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội thể hiện sự hung hãn, ngang ngược, coi thường pháp luật, coi thường người khác, phạm tội có thể vì những nguyên cớ rất nhỏ nhặt. Ở đây, để áp dụng tình tiết này cần phải dựa vào hành vi của người phạm tội chứ không dựa vào chính bản thân người thực hiện hành vi đó. Nếu người thực hiện hành vi phạm tội vốn là người có thái độ ngang ngược, vô văn hóa, hung hãn, nhưng khi thực hiện hành vi, tính chất ngang ngược, coi thường người khác, coi thường pháp luật không thể hiện rõ thì không có căn cứ để áp dụng tình tiết này. Ngược lại, nếu một người thực hiện hành vi phạm tội vì lí do nhỏ nhặt, không đáng, thể hiện rõ thái độ xấc xược, ngang tàng, hung hãn, coi thường người khác, coi thường pháp luật, thì dù trước đó, trong cuộc sống họ chưa bao giờ thể hiện thái độ này, họ vẫn bị áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ”.
Phạm tội vì động cơ đê hèn: Được hiều là động cơ phạm tội của người phạm tội ở đây là động cơ mang tính hèn nhát, bội bạc, phản trắc, thể hiện sự ích kỷ. Chẳng hạn như phạm tội đối với người mà mình mang ơn, phạm tội để trốn tránh trách nhiệm mà mình gây ra,…Đây là tình tiết phản ánh mức độ lỗi của người phạm tội và mức độ lỗi trong trường hợp này nghiêm trọng hơn bình thường, do đó, tình tiết này được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng: Đây là tình tiết được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015. Người phạm tội trong trường hợp này thể hiện ý chí quyết tâm cao khi thực hiện tội phạm thông qua việc họ tìm mọi cách cố gắng khắc phục trở ngại, khó khăn nhằm thực hiện tội phạm đến cùng. Vì vậy, mức độ lỗi của người phạm tội ở đây nghiêm trọng hơn so với những trường hợp thông thường khác. Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào khó khăn mà người phạm tội cần phải khắc phục và mức độ cố gắng, quyết tâm khắc phục trở ngại để thực hiện tội phạm đến cùng của họ.
Phạm tội 02 lần trở lên: Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 tình tiết này trước đây trong BLHS năm 1999 được ghi nhận là “phạm tội nhiều lần” (điểm g khoản 1 Điều 48). Theo xu hướng cụ thể hóa các quy định trong BLHS, các nhà làm luật đã sửa đổi thành “phạm tội 02 lần trở lên”. Về nội dung, ý nghĩa của tình tiết này hoàn toàn không có sự thay đổi, chỉ khác biệt về cách diễn đạt. Phạm tội từ 02 lần trở lên được hiểu là trước lần phạm tội này, người phạm tội đã thực hiện tội phạm ít nhất một lần trước đó và chưa bị xét xử. Hành vi phạm tội lần này là sự lặp lại tội mà người đó đã phạm trước đó nên thể hiện mức độ nguy hiểm cao hơn trường hợp bình thường. Mức độ tăng nặng của tình tiết này tùy thuộc vào số lần phạm tội trước đó cũng như tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà người đó đã thực hiện trong từng lần.
Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm: Theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 đây là tình tiết được tách ra độc lập từ tình tiết được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. Đây là tình tiết tăng nặng đã được quy định cụ thể tại Điều 53 BLHS năm 2015.
Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên: Đây cũng là một tình tiết tăng nặng được sửa đổi về cách diễn đạt theo hướng cụ thể hóa trong BLHS năm 2015. Trước đây, tình tiết này được ghi nhận tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 là “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác”. Ở đây, BLHS năm 2015 đã tách tình tiết này thành hai và quy định rất rõ ràng về độ tuổi của trẻ em là dưới 16 tuổi và người già là “đủ 70 tuổi trở lên”. Theo quy định này, các đối tượng bị xâm hại ở đây là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt, là những người không có, hoặc khả năng tự vệ thấp cần phải được người khác bảo vệ. Hành vi phạm tội ở đây đã xâm phạm đến chính sách bảo vệ của Nhà nước đối với trẻ em, phụ nữ có thai và người cao tuổi. Do vậy, những trường hợp phạm tội đối với các đối tượng đặc biệt này thể hiện mức độ nguy hiểm cao hơn so với các trường hợp khác.
Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác: Đây là tình tiết được tách ra từ điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999, đồng thời được bổ sung thêm một số đối tượng bị tội phạm xâm hại. Trước đây, chỉ các đối tượng là người “ở trong tình trạng không thể tự vệ được” hoặc người lệ thuộc vào người phạm tội về mặt vật chất, tình thần, công tác hoặc các mặt khác mới được bảo vệ đặc biệt. Hành vi phạm tội đối với những người này được xem là nghiêm trọng hơn những trường hợp bình thường. Người ở trong tình trạng không thể tự vệ được là người do thể trạng yếu đuối hoặc bệnh tật dẫn đến không có khả năng chống lại hành vi phạm tội, không có khả năng tự bảo vệ mình. Người lệ thuộc vào người phạm tội là những người khống chế bởi các mối quan hệ ràng buộc với người phạm tội về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác như tôn giáo, tín ngưỡng,…Hiện nay, trong BLHS năm 2015, các đối tượng được bảo vệ đặc biệt đã được mở rộng thêm, bao gồm cả “người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức”. Các đối tượng này đã được làm rõ trong nội dung các tình tiết giảm nhẹ đã phân tích ở phần trên. Quy định mở rộng đối tượng trong tình tiết này thể hiện chính sách bảo vệ đặc biệt đối với nhóm đối tượng yếu thế, không có hoặc hạn chế khả năng tự vệ.
Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội được hiểu là người phạm tội đã lợi dụng thời điểm xã hội đang khó khăn, phức tạp để dễ dàng thực hiện tội phạm. Hoàn cảnh đặc biệt này xảy ra trong xã hội đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, khắc phục khó khăn, tuy vậy người phạm tội đã không giúp đỡ khắc phục, còn có hành vi làm tăng thêm những khó khăn đang có của xã hội. Chính vì vậy, hành vi phạm tội có tình tiết này thể hiện tính chất nghiêm trọng cao hơn bình thường.
Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội điểm m khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 đã được bổ sung thêm thủ đoạn “tinh vi” so với quy định tương ứng tại điểm m khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. Để áp dụng tình tiết này, người phạm tội phải sử dụng thủy đoạn phạm tội “tinh vi, xảo quyệt, tàn ác” khi thực hiện tội phạm. Thủ đoạn phạm tội tinh vi là những mánh khóe, cách thức thực hiện tội phạm phức tạp, kín đáo, khó bị phát hiện. Thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác là việc thực hiện tội phạm với cách thức thâm độc, tàn nhẫn, man rợ, gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần cho chính nạn nhân hoặc người thân của họ. Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào mức độ tinh vi, tàn nhẫn, thâm độc của thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện.
Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội quy định tại điểm n khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 được tách ra từ điểm m khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. Tình tiết này được áp dụng khi người phạm tội dùng cách thức, công cụ, phương tiện có khả năng đe dọa tính mạng, sức khỏe của nhiều người khi thực hiện tội phạm. Chẳng hạn như dùng chất nổ, chất cháy, ném lựu đạn, dùng súng bắn vào đám đông, bỏ độc vào bể nước sinh hoạt chung,…Tình tiết này chỉ đòi hỏi thủ đoạn, công cụ, phương tiện mà người phạm tội sử dụng, đặt trong điều kiện nhất định có khả năng gây nguy hại cho nhiều người mà không đòi hỏi khả năng đó phải thực sự xảy ra. Mức độ tăng nặng của tình tiết này phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của thủ đoạn, phương tiện mà người phạm tội lựa chọn.
Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 Để đảm bảo tính thống nhất trong các quy định của BLHS, tình tiết này đã được sửa đổi so với tình tiết “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” tại điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. Hiện nay, BLHS năm 2015 không sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” mà thay bằng “người dưới 18 tuổi”. Như vậy, tình tiết tăng nặng này được hiểu là người phạm tội đã có hành vi dụ dỗ, kích động, thúc đẩy người khác là người chưa đủ 18 tuổi thực hiện tội phạm. Người xúi giục ở đây hoàn toàn nhận thức được người đang bị mình xúi giục phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi. Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự khi áp dụng tình tiết này phụ thuộc vào số lượng người bị xúi giục, độ tuổi của người bị xúi giục và tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm mà người dưới 18 tuổi thực hiện.
Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm là trường hợp người phạm tội đã có hành vi gian dối, quỷ quyệt hoặc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực đối với người khác nhằm đánh lạc hướng điều tra, trốn tránh hoặc che giấu tội phạm. Mức độ gian dối, hung hãn cao, thì mức độ trách nhiệm hình sự càng nặng.
Khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015 quy định “các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Như vậy, những tình tiết đã liệt kê tại khoản 1 Điều 52 chỉ được sử dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt trước đó, Tòa án chưa sử dụng những tình tiết đó để định tội hoặc định khung hình phạt.
3. Phân biệt tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tính tiết định khung, định tội
Vậy, vì sao cần phải phân biệt các tình tiết tăng nặng TNHS với các tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt, định tội?
Trong quá trình áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, người áp dụng pháp luật phải phân biệt rõ tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết định tội là tình tiết do nhà làm luật quy định dùng để xác định một hành vi cụ thể nào đó có phạm tội (phạm vào một tội danh cụ thể được quy định trong luật hình sự) không? Trong khoa học luật hình sự, tình tiết định tội còn được gọi là tình tiết (dấu hiệu) thuộc cấu thành tội phạm cơ bản.
Tình tiết định khung hình phạt là tình tiết do nhà làm luật quy định trong các khoản (giảm nhẹ hoặc tăng nặng) của điều luật cụ thể, dùng để xác định trường hợp phạm tội cụ thể nào đó có thuộc trường hợp được quy định ở khung hình phạt tăng nặng hoặc khung hình phạt giảm nhẹ của của tội phạm đó không?. Trong khoa học luật hình sự, tình tiết định khung hình phạt còn được gọi là tình tiết (dấu hiệu) thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng (khung tăng nặng) và cấu thành tội phạm giảm nhẹ (khung giảm nhẹ).
Thông thường, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, người áp dụng pháp luật trước hết phải xác định được hành vi của người nào đó có phạm tội không, nếu có thì phạm tội gì, nghĩa là phải định tội (xác định tội danh) đối với hành vi mà một người đã thực hiện. Sau đó, phải xác định xem hành vi phạm tội mà người đó thực hiện thuộc trường hợp được quy định ở khung hình phạt nào (khoản nào của điều luật), nghĩa là phải xác định khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Sau khi đã xác định được tội danh, điều khoản áp dụng đối với người phạm tội, người áp dụng pháp luật mới cân nhắc xem mức hình phạt cụ thể cần áp dụng đối với người phạm tội ở mức nào trong khung hình phạt là phù hợp. Việc cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để xác định mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội trong phạm vi một khung ghình phạt (quyết định hình phạt) chỉ được thực hiện sau khi đã định tội (xác định tội danh, điều luật áp dụng), định khung hình phạt (xác định khoản của điều luật áp dụng).
Để có cái nhìn rõ ràng và tránh nhầm lẫn trong quá trình định tội và quyết định hình phạt, việc phân biệt ba khái niệm "tình tiết định tội", "tình tiết định khung hình phạt" và "tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự" là vô cùng cần thiết. Mối quan hệ giữa chúng được thể hiện rõ trong bảng so sánh dưới đây.
| Tiêu chí so sánh | Tình tiết định tội | Tình tiết định khung | Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự |
| Số lượng | Mỗi tội danh chỉ có một tình tiết định tội nhất định là dấu hiệu để xác định tội danh. | Một điều luật có thể có một hoặc nhiều tình tiết định khung khác nhau, có thể là tăng nặng hoặc giảm nhẹ. | Được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 52 BLHS. |
| Mục đích | Xác định tội danh của hành vi phạm tội, phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. | Xác định một khung hình phạt cụ thể phải áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được định tội danh. | Làm căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt cụ thể trong khung hình phạt đã được định, làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. |
| Vị trí | Nằm trong cấu thành tội phạm cơ bản của điều luật về tội phạm cụ thể. | Nằm trong các khoản khác (thường là khoản 2 trở lên) của điều luật về tội phạm cụ thể. | Nằm tại Điều 52 BLHS. |
| Bản chất | Là dấu hiệu cơ bản, đặc trưng nhất cho phép xác định một tội phạm cụ thể. | Phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cao hơn hoặc giảm đi. | Là những yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. |
4. Phân tích nguyên tắc một tình tiết tăng nặng không thể áp dụng hai lần
Nguyên tắc cốt lõi trong việc áp dụng các tình tiết này được quy định tại khoản 2, Điều 52 BLHS 2015: "Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng". Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính công bằng, tránh việc "tính kép" một tình tiết, dẫn đến mức hình phạt không chính xác.
Một ví dụ điển hình là trường hợp tình tiết "đã bị kết án" khi định tội. Trong vụ án của Trần Văn T phạm tội "trộm cắp tài sản" với giá trị dưới 2 triệu đồng, hành vi của T vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự do T đã có tiền án về cùng tội danh nhưng chưa được xóa án tích. Trong trường hợp này, các tiền án của T được sử dụng để định tội theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Do đó, các tiền án này không được sử dụng lại để xác định tình tiết tăng nặng "tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm" theo Điều 52 BLHS nữa.
Tương tự, trong Án lệ 64/2023/AL về tội "Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản", tình tiết "có tổ chức" được xác định là tình tiết định khung tăng nặng tại điểm a khoản 2 Điều 169 BLHS, do đó không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52. Việc phân biệt này là tối quan trọng để Tòa án có thể đưa ra một bản án đúng người, đúng tội và đúng khung hình phạt.
Phân tích cách áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qua án lệ số 64/2023/AL:
Án lệ số 64/2023/AL là một ví dụ rõ nét về cách Tòa án nhân dân Tối cao đã làm rõ việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trong một vụ án hình sự. Vụ án liên quan đến bị cáo Trần Văn N. và đồng phạm đã bắt cóc anh Lưu Mạnh T. để đòi nợ. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm ban đầu đã đưa ra các phán quyết khác nhau, gây ra sự không thống nhất.
Tuy nhiên, trong quyết định giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã phân tích rõ hành vi của các bị cáo. Bị cáo N. được xác định là người khởi xướng, rủ rê và phân công nhiệm vụ chi tiết cho các đồng phạm khác. Giữa các bị cáo có sự câu kết chặt chẽ và hành động thống nhất theo sự chỉ đạo của N. Tòa án đã nhận định rằng hành vi này có dấu hiệu của tội "có tổ chức" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 BLHS. Việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này đã giúp Tòa án đưa ra phán quyết đúng đắn và thống nhất. Án lệ này không chỉ giải quyết một vụ việc cụ thể mà còn thiết lập một tiền lệ pháp lý cho việc áp dụng tình tiết "có tổ chức" trong các vụ án đồng phạm có tính chất tương tự.
5. Vướng mắc, bất cập và đề xuất hoàn thiện
Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật đã khá đầy đủ, thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng vẫn tồn tại nhiều vướng mắc và bất cập, đặc biệt đối với các tình tiết có tính định tính hoặc có sự chồng chéo về chức năng.
Thứ nhất, vướng mắc trong áp dụng tình tiết "Phạm tội nhiều lần" và "Tái phạm nguy hiểm": Một trong những vấn đề lớn nhất là sự chồng chéo giữa tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết định khung hình phạt. Điều 52, khoản 2 BLHS quy định rõ: "Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng". Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc phân định rất phức tạp. Tình tiết "phạm tội nhiều lần" là một ví dụ điển hình khi nó vừa là tình tiết tăng nặng chung tại Điều 52, vừa là tình tiết định khung tăng nặng của nhiều tội danh cụ thể. Người tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các văn bản hướng dẫn như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để xác định tình tiết đó thuộc loại nào trong vụ án cụ thể.
Tương tự, tình tiết "tái phạm nguy hiểm" cũng gây ra tranh cãi trong thực tiễn. Mặc dù BLHS 2015 đã khắc phục một số bất cập của BLHS 1985, vẫn còn những quan điểm trái chiều về cách hiểu thuật ngữ "đã bị kết án". Một số quan điểm cho rằng chỉ cần có bản án kết tội là đủ, trong khi quan điểm khác yêu cầu bản án đó phải có hiệu lực pháp luật. Sự thiếu thống nhất này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định có tái phạm hay không, từ đó tác động đến việc quyết định hình phạt. Việc phụ thuộc vào các văn bản hướng dẫn hoặc quan điểm cá nhân làm giảm tính minh bạch và khả năng dự đoán được của pháp luật, đồng thời cho thấy sự cần thiết của việc chuẩn hóa các định nghĩa một cách rõ ràng hơn ngay trong chính BLHS.
Thứ hai, sự mập mờ của tình tiết "Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người". Theo các báo cáo về thực tiễn xét xử, việc áp dụng tình tiết tăng nặng này gặp nhiều vướng mắc do tính định tính của nó. Có ba vấn đề chính được các chuyên gia chỉ ra:
- Kỹ thuật lập pháp: Việc sử dụng từ "hoặc" trong điều luật có thể gây ra cách hiểu rằng "thủ đoạn" và "phương tiện" là hai tình tiết riêng biệt. Tuy nhiên, trong thực tế, hai yếu tố này thường đi liền với nhau, thậm chí phương tiện còn là một phần của thủ đoạn, gây khó khăn cho việc áp dụng.
- Phạm vi tác động: Có nhiều tranh cãi về việc tác động "gây nguy hại cho nhiều người" có cần phải là trực tiếp hay không. Ví dụ về hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe nhiều người là một trường hợp gây tranh cãi gay gắt.
- Tính chủ quan trong đánh giá: Việc xác định "khả năng gây nguy hại" phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của người đánh giá, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất. Chẳng hạn, một người sử dụng chất độc để giết một người khác, sau khi nạn nhân chết, cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường và thấy chất độc đó có thể gây nguy hại cho nhiều người, nhưng lại chỉ có một nạn nhân duy nhất. Trong trường hợp này, một số cơ quan có thể không áp dụng tình tiết tăng nặng vì hành vi đã hoàn thành, trong khi một số khác lại áp dụng vì chất độc đó có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Sự thiếu thống nhất này làm mất đi tính công bằng, bình đẳng trước pháp luật, khi một hành vi tương tự có thể nhận các mức án khác nhau tùy thuộc vào địa phương hoặc cơ quan xét xử.
Thứ ba, thực tiễn áp dụng tình tiết "Có tính chất côn đồ". Việc áp dụng tình tiết "có tính chất côn đồ" trong thực tiễn xét xử phụ thuộc rất lớn vào sự đánh giá tổng thể của Hội đồng xét xử về tính chất "vô cớ" hoặc "vì một duyên cớ nhỏ nhặt" của hành vi phạm tội. Các bản án thực tế cho thấy Tòa án thường áp dụng tình tiết này khi hành vi phạm tội xuất phát từ những mâu thuẫn rất nhỏ, như tranh cãi về việc chia tiền đánh bài, xích mích trong lúc nói chuyện, hay chỉ vì bị nhắc nhở mở nhạc to.
Ngược lại, Tòa án cũng có thể không áp dụng tình tiết này khi xét thấy bị hại có lỗi trước. Ví dụ, trong một vụ án cố ý gây thương tích, Tòa án đã lập luận rằng hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ vì bị hại đã tấn công bị cáo trước đó. Việc này cho thấy Tòa án không chỉ nhìn vào hành vi của bị cáo mà còn xem xét toàn bộ bối cảnh, bao gồm cả hành vi của bị hại và nguồn gốc mâu thuẫn. Điều này tạo ra một sự linh hoạt nhất định trong xét xử, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro thiếu thống nhất do phụ thuộc vào yếu tố chủ quan.
Qua phân tích và đánh giá toàn diện về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, báo cáo đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và tính công bằng của pháp luật hình sự Việt Nam:
Chuẩn hóa các tình tiết định tính các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là Tòa án nhân dân Tối cao, cần tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết và kịp thời để làm rõ nội hàm các tình tiết định tính, chẳng hạn như "phạm tội nhiều lần" hoặc "dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người". Điều này sẽ giảm thiểu sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và đảm bảo tính minh bạch, có thể dự đoán được của các phán quyết.
Bổ sung các quy định đối phó với tội phạm mới cần nghiên cứu và bổ sung các tình tiết tăng nặng mới, đặc biệt là đối với tội phạm công nghệ cao và tội phạm mạng, để lấp đầy các lỗ hổng pháp lý hiện hành. Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 là một bước đi đúng đắn, thể hiện sự thích ứng của pháp luật với sự phức tạp của các loại tội phạm hiện đại.
Tăng cường bản lĩnh và năng lực nghề nghiệp cho Thẩm phán đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ liên tục cho đội ngũ thẩm phán để nâng cao tính độc lập, khách quan và bản lĩnh nghề nghiệp. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát và kiểm soát chặt chẽ để ngăn chặn các yếu tố tiêu cực bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định xét xử.
Tiếp tục phát triển hệ thống Án lệ cần tiếp tục thúc đẩy việc xây dựng và công bố các án lệ chính thức để chuẩn hóa các quy tắc xét xử đã hình thành trong thực tiễn, từ đó giảm thiểu sự tồn tại của "án lệ ngầm". Điều này sẽ giúp hệ thống tư pháp trở nên nhất quán và đáng tin cậy hơn.
Tóm lại: Hệ thống các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đóng vai trò nền tảng trong việc cá thể hóa hình phạt và đảm bảo tính công bằng của pháp luật hình sự. Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, đặc biệt là với việc ban hành các án lệ và định hướng sửa đổi BLHS, vẫn còn tồn tại những bất cập lớn trong thực tiễn áp dụng. Sự mập mờ của các khái niệm định tính và sự chồng chéo giữa các tình tiết định khung và tình tiết tăng nặng vẫn là những thách thức đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ các cơ quan lập pháp và tư pháp. Bằng cách chuẩn hóa các quy định, cập nhật pháp luật để đối phó với các loại tội phạm mới, và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tư pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục được hoàn thiện, hướng tới một nền tư pháp công bằng, minh bạch và hiệu quả hơn.
Mọi thắc mắc quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến số Hotline: 1900.6162 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp giải đáp các thắc mắc. Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!