1. Khái niệm
Tình trạng không có năng lực hành vi. Gọi là không có năng lực hành vi người ở trong tình trạng không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà mình là chủ thể. Tình trạng không có năng lực hành vị, trong luật thực định Việt Nam, có hai cấp độ: - Hoàn toàn không có năng lực hành vi. Những người hoàn toàn không có năng lực hành vi bao gồm người chưa đủ sáu tuổi và người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể làm chủ được hành vi của mình và bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi (Ðiều 21 và 22).
- Có năng lực hành vi không đầy đủ. Người có năng lực hành vi không đầy đủ là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi: người này chỉ có thể xác lập các giao dịch phục vụ cho như cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Tình trạng có năng lực hành vi không đầy đủ lại được chia thành hai cấp độ: người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ có quyền xác lập các giao dịch gọi nôm na là “lặt vặt”; người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở lên được phép xác lập các giao dịch quan trọng, nếu có tài sản riêng đủ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và nếu pháp luật không có quy định khác (Điều 20)
Không có năng lực hành vi và không có năng lực pháp luật. Không có năng lực pháp luật được hiểu là tình trạng không có khả năng hưởng quyền, không có khả năng trở thành chủ thể của quyền (suy lý ngược BLDS Điều 14). Năng lực pháp luật có thể được hình dung theo nghĩa tích cực - khả năng hưởng quyền, hoặc theo nghĩa tiêu cực- khả năng đảm nhận nghĩa vụ. Bởi vậy, tình trạng không có năng lực pháp luật cũng có thể được ghi nhận theo hai khía cạnh đó. Năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi. Vấn đề có hay không có năng lực hành vi chỉ được đặt ra trong trường hợp đương sự có năng lực pháp luật: nếu đương sự không có khả năng hưởng quyền, đảm nhận nghĩa vụ, thì không cần thiết đặt vấn đề thực hiện quyền, nghĩa vụ. Vả lại, tình trạng mất năng lực hành vi có thể được khắc phục; còn tình trạng mất năng lực pháp luật thì không. Người không có năng lực hành vi vẫn có thể xác lập một số giao dịch thông qua vai trò của người đại diện, trừ những giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải do chính chủ thể xác lập và thực hiện , như sẽ thấy sau đây; trong khi đó, tình trạng mất năng lực pháp luật là không thể cứu chữa: người không có năng lực pháp luật không thể xác lập giao dịch bị cấm, dù dưới hình thức nào và bằng cách nào.
Không có năng lực đặc biệt và không có năng lực tổng quát. Trong học thuyết pháp lý latinh, còn có sự phân biệt giữa không có năng lực trong một số trường hợp (gọi là không có năng lực đặc biệt) và không có năng lực trong mọi trường hợp (gọi là không có năng lực tổng quát).
- Không có năng lực đặc biệt là tình trạng không có năng lực đối với một số giao dịch được xác định cụ thể.
· Không có năng lực hành vi đậc biệt là tình trạng không được tự mình trực tiếp thực hiện một hoặc nhiều quyền hoặc nghĩa vụ mà mình là chủ thể. Người không có năng lực hành vi đặc biệt vẫn có thể tự mình thực hiện tất cả những quyền và nghĩa vụ không bị cấm thực hiện. Ví dụ, người từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không có quyền tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch mang tính chất định đoạt đối với các tài sản có giá trị lớn, nhưng vẫn có quyền tự mình quản lý tài sản của mình và thậm chí tự mình định đoạt những tài sản có giá trị không lớn. Người thuộc giới tính nam đã thành niên mà chưa đủ 20 tuổi không thể kết hôn, nhưng có thể giao kết tất cả các loại hợp đồng dân sự, lập di chúc,…
· Không có năng lực pháp luật đặc biệt là tình trạng không có khả năng hưởng một hoặc nhiều quyền cụ thể. Người không có năng lực pháp luật đặc biệt vẫn có khả năng hưởng các quyền không bị cấm hưởng. Ví dụ, người chưa được 18 tuổi không có năng lực pháp luật kết hôn; người chưa đủ 14 tuổi không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn có năng lực pháp luật thừa kế.
- Không có năng lực tổng quát là tình trạng không có năng lực đối với tất cả các loại giao dịch. Tình trạng không có năng lực hành vi có thể mang tính chất tổng quát: có những người (không có năng lực hành vi) không được phép tự mình thực hiện bất kỳ một giao dịch nào, dù quan trọng hay không quan trọng. Ví dụ điển hình là trường hợp người chưa đủ 6 tuổi. Trái lại, tình trạng không có năng lực pháp luật chỉ được ghi nhận theo trường hợp. Nói rõ hơn, không thể có tình trạng mất năng lực pháp luật tổng quát, đặc trưng bằng việc một người không có khả năng hưởng bất kỳ một quyền nào và cũng không thể đảm nhận bất ký nghĩa vụ nào. Không có năng lực pháp luật tổng quát, đương sự không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật và đó là điều không thể chấp nhận được trong một xã hội tôn trọng quyền con người.
Trong trường hợp một quyền nào đó tồn tại trong thời gian không xác định, thì tình trạng không có năng lực pháp luật phải được giới hạn trong thời gian, để, đến một lúc nào đó, chủ thể có thể khôi phục năng lực hưởng quyền đó. Chẳng hạn, quyền tự do kinh doanh tồn tại chừng nào chủ thể còn tồn tại; một chủ thể có thể mất năng lực pháp luật kinh doanh
2. Tính chất ngoại lệ của tình trạng không có năng lực hành vi
Trên nguyên tắc, mỗi người sinh ra đều có năng lực hành vi để giao tiếp, xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong cuộc sống dân sự. Thế nhưng, nguyên tắc này chỉ được áp dụng trong chừng mực chủ thể có khả năng chịu trách nhiệm về những hệ quả của hành vi do mình thực hiện. Khả năng chịu trách nhiệm, về phần mình, được lý giải bởi khả năng nhận thức của chủ thể về tính chất của giao dịch do mình xác lập, về tầm quan trọng của những hệ quả phát sinh từ giao dịch đó. Do những nguyên nhân khác nhau, không phải ai cũng có được khả năng nhận thức đó; bởi vậy, trong một số trường hợp đặc thù, nguyên tắc này phải bị gạt bỏ và thay vào đó, các ngoại lệ của nguyên tắc được thừa nhận.
Ngoại lệ do điều kiện tự nhiên. Các ngoại lệ do điều kiện tự nhiên bao gồm tình trạng hoàn toàn không có năng lực hành vi do chưa đủ 6 tuổi và tình trạng có năng lực hành vi không đầy đủ do chưa đủ 18 tuổi. Những người chưa đủ 18 tuổi được cho là chưa đủ chín mùi về thể chất để có thể nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tác động xã hội, pháp lý của hành vi do mình thực hiện. Sự suy đoán là không thể đảo ngược, nghĩa là không ai có thể nói khác đi. Ngoại lệ do điều kiện tự nhiên được áp dụng mà không cần một thủ tục pháp lý nào: chừng nào đương sự chưa đạt đủ 18 tuổi, tình trạng chưa đủ năng lực hành vi được thiết lập một cách đương nhiên.
Ngoại lệ do quy định của pháp luật. Các ngoại lệ do quy định của pháp luật bao gồm tình trạng mất năng lực hành vi do không nhận thức được hành vi của mình và tình trạng hạn chế năng lực.
Khác với ngoại lệ do điều kiện tự nhiên, ngoại lệ do pháp luật quy định đòi hỏi sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong điều kiện đương sự đang được thừa nhận hoàn toàn có đủ năng lực hành vi, nhưng không xứnbg đáng với sự thừa nhận đó nữa, do những khiếm khuyết nghiêm trọng về thể chất hoặc về nhân cách. Bởi vậy:
- Người mắc bệnh gì đó mà không nhận thức được hành vi của mình vẫn là người có năng lực hành vi đầy đủ cho đến khi nào bị đặt trong tình trạng mất năng lực hành vi bằng một bản án của Toà án . Tương tự, người thường xuyên có hành vi phá tán tài sản vẫn có năng lực hành vi đầy đủ và vẫn có quyền tự mình xác lập mọi giao dịch (bao gồm các giao dịch có tính chất phá tán) chừng nào chưa bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi bằng một bản án của Toà án
- Người đã bị đặt trong tình trạng mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi bằng một bản án của Toà án sẽ ở trong tình trạng này, chừng nào bản án chưa được dỡ bỏ, ngay cả trong trường hợp đã khôi phục hoàn toàn khả năng nhận thức của mình hoặc đã chấm dứt hoàn toàn các hoạt động mang tính chất phá tán tài sản.
3.Lý lẽ của nguyên tắc
Hệ quả tất yếu của việc thừa nhận sự bình đẳng giữa các chủ thể. Việc thiết lập nguyên tắc theo đó, mỗi người đều được thừa nhận có đầy đủ năng lực hành vi xuất phát từ một quy tắc cơ bản của luật về quyền chủ thể: mỗi người đều được đối xử ngang nhau trong việc xác lập tư cách chủ thể của các quyền; mỗi người có quyền đều được đối xử ngang nhau trong việc thực hiện quyền của mình. Quy tắc đó có nguồn gốc từ sự tự do của con người và từ chân lý “con người sinh ra bình đẳng”.
4. Lý lẽ của ngoại lệ
Sự khác biệt giữa các chủ thể. Sự đối xử ngang nhau dành cho các chủ thể chỉ tỏ ra hợp lý một khi các chủ thể có khả năng nhận thức, khả năng chịu trách nhiệm ngang nhau, cũng như đều xứng đáng như nhau trong việc hưởng quyền, đảm nhận nghĩa vụ. Trên thực tế, điều này không phải lúc nào cũng được bảo đảm. Một cách hợp lý, các chủ thể khác nhau về khả năng nhận thức, chịu trách nhiệm hoặc ở những mức độ xứng đáng khác nhau sẽ được đối xử không giống nhau.
Tình trạng không có năng lực hành vi. Tình trạng không có năng lực hành vi được thiết lập nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ những người không có năng lực, chống lại việc người này tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của mình trong điều kiện không có hoặc không đủ khả năng đánh giá tầm quan trọng của các hệ quả pháp lý mà giao dịch ấy có thể mang lại cho mình.
Tính chất bảo vệ đối với người không có năng lực hành thể hiện rõ nét ở việc tổ chức và vận hành cơ chế đại diện cho người không có năng lực hành vi, như ta sẽ thấy. Cơ chế đại diện cho phép cả sự giám sát và sự can thiệp của người đại diện vào các giao dịch xác lập nhân danh người không có năng lực hành vi.
Không có năng lực pháp luật. Trái lại, tình trạng không có năng lực pháp luật được thiết lập với các mục đích đa dạng, được xác định gần như tuỳ theo trường hợp Có trường hợp không có năng lực pháp luật được hiểu như một biện pháp chế tài. Chẳng hạn, người bị kết án về tội tham ô không có năng lực pháp luật đảm nhận các công việc mang tính chất quản lý tài sản của người khác; người bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, danh dự, nhân phẩm của trẻ em không có năng lực pháp luật nuôi con nuôi. Có trường hợp không có năng lực pháp luật được hiểu là biện pháp bảo vệ đương sự. Ví dụ điển hình là tình trạng không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người chưa đủ 14 tuổi, của người không nhận thức được hành vi của mình: người này, dù phạm tội, không thể chịu hình phạt mà được xử lý bằng những biện pháp đặc biệt có tác dụng.
5.Có trường hợp không có năng lực pháp luật mang ý nghĩa kép
Có trường hợp không có năng lực pháp luật mang ý nghĩa kép: vừa bảo vệ đương sự, vừa bảo vệ người thứ ba chống lại những hành động thiếu suy nghĩ của đương sự có thể dẫn đến hậu quả bất lợi cho người thứ ba, thậm chí cho xã hội. Ví dụ điển hình là tình trạng không có năng lực pháp luật lập di chúc của người chưa đủ 15 tuổi: người này có thể định đoạt tài sản của mình một cách thiếu suy nghĩ, nhưng cũng có thể định đoạt tài sản của người khác mà không biết. Tình trạng không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người dưới 14 tuổi cũng có thể được hiểu theo nghĩa kép đó: một mặt, người phạm tội dưới 14 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự; mặt khác, nạn nhân của người phạm tội dưới 14 tuổi có thể được bảo vệ trong trường hợp người phạm tội chịu sự xúi giục của người khác.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)