1. Mức đền bù đất tái định cư cho nhiều hộ gia đình sống cùng nhau ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Nhà đất của tôi hiện có 2 hộ khẩu, một khẩu trong sổ có một mình bố tôi dù ông sống không hôn thú với một người phụ nữ khác tại đây và 1 khẩu là gia đình em trai tôi với 4 người. Theo luật, chúng tôi có thể xin được 2 suất đất tái định cư. Dù đã có 2 sổ hộ khẩu rõ ràng, nhưng ban đền bù cứ khăng khăng bắt chúng tôi phải làm đơn xin và có dấu xác nhận của công an phường, trong khi đó công an phường lại không chịu xác nhận việc đó, dù chúng tôi có đủ giấy tờ là "2 sổ hộ khẩu rõ ràng", 2 hộ khẩu này được tách hồi năm 2007. Chúng tôi yêu cầu được 2 suất tái định cư như vậy có đúng luật hay không? Ban đền bù đòi hỏi chúng tôi làm đơn như vậy với xác nhận của công an phường trong khi chúng tôi đã trình cả 2 sổ hộ khẩu cho họ thì có đúng luật hay không? Công an phường từ chối xác nhận như vậy có đúng luật hay không? Ngoài ra, nhà tôi là nhà mặt đường chính (đường rộng 31 m), bây giờ họ chỉ bố trí tái định cư ở nhà mặt đường (đường rộng có 16 cho đến 22m), và họ lấy lí do rằng mặt đường mới chính (rộng 31 m) ở khu tái định cư chỉ giành cho các hộ dân có nhà đất bị thu hồi với diện tích 70m2 trở lên. Nhà tôi có 26,9m2, nhưng họ không chịu làm suất tái định cư loại nhỏ ở mặt đường 31m trong khu tái định cư.

Chúng tôi nghi ngờ rằng việc họ cố tình làm các suất tái định cư rộng 60m2 để nhà như tôi không đủ tiêu chuẩn để họ bán cho người khác. Họ làm như vậy có đúng luật không? Có điều luật nào cho phép tôi được quyền đòi suất tái định cư cho tương xứng với hiện trạng "mặt đường 31 m hiện nay" của tôi không? Tôi cảm thấy rất bất công khi nhà tôi hiện nay đang là nhà mặt đường lớn, mà bây giờ họ lại bắt vào ở nhà mặt đường nhỏ.

Vẫn biết hỏi tiếp như vậy, có thể bị các anh chị nói là tham lam, nhưng hoàn cảnh hiện nay chưa cho phép chúng tôi thuê luật sư đứng ra giúp đòi quyền lợi từ đầu tới cuối. Vẫn mong hồi âm sớm từ các anh chị nếu có thể ?

Tôi xin trân thành cám ơn các anh chị. Trân trọng!

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Thứ nhất, bồi thường khi thu hồi đất cho nhiều hộ cùng chung sống trên một mảnh đất bị thu hồi

Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì khi Nhà nước thu hồi đất ở sẽ được thực hiện như sau:

"Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình."

Ngoài ra, theo Điều 18 và Điều 19 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT thì các trường hợp được bố trí tái định cư gồm:

"Điều 18. Các trường hợp được bố trí tái định cư

Hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất ở thì được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư).

2. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.

3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.

4. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng) cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương để quy định diện tích đất, diện tích nhà ở để bố trí tái định cư."

"Điều 19. Bố trí tái định cư

Việc bố trí tái định cư thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và được quy định cụ thể như sau:

1. Công khai phương án bố trí tái định cư; đối với dự án đã có khu tái định cư thì hộ gia đình, cá nhân được tái định cư được xem nơi dự kiến tái định cư trước khi chuyển đến.

2. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. Giá bán nhà tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định trên cơ sở suất đầu tư nhà ở và thực tế tại địa phương. Giá cho thuê nhà do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phù với thực tế tại địa phương.

Hộ gia đình, cá nhân được giao đất, mua nhà, thuê nhà tại nơi tái định cư phải nộp tiền sử dụng đất, tiền mua nhà, tiền thuê nhà theo quy định của pháp luật và được trừ vào tiền bồi thường, hỗ trợ; nếu có chênh lệch thì thực hiện thanh toán bằng tiền phần chênh lệch đó theo quy định, trừ trường hợp được hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP."

Theo quy định trên, điều kiện chung của các trường hợp được bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là hộ gia đình “phải di chuyển chỗ ở” mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi. Trong trường hợp này, do gia đình bạn đang sinh sống trên mảnh đất bị thu hồi nên khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất sẽ gây ảnh hưởng đến chỗ ở hiện tại của gia đình bạn Vì vậy, gia đình bạn thuộc các trường hợp được bố trí tái định cư theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, theo thông tin bạn cung cấp thì nhà đất của bạn hiện có 2 hộ khẩu, một khẩu trong sổ có một mình bố bạn và 1 khẩu là gia đình em trai bạn với 4 người. Do đó, theo Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì gia đình bạn được cấp 2 suất tái định cư nên việc bạn yêu cầu Ban đền bù cấp 02 suất tái định cư là đúng luật. Còn trường hợp Ban đền bù đòi hỏi bạn làm đơn như vậy với xác nhận của công an phường trong khi bạn đã trình cả 2 sổ hộ khẩu cho họ là không đúng vì hiện chưa có văn bản pháp luật nào đề cập đến việc làm đơn xác nhận có hai sổ hộ khẩu có xác nhận của Công an phường để xin cấp đất tái định cư. Và việc Công an phường từ chối xác nhận là chưa hợp lý.

- Thứ hai, cấp đất tái định cư cho nhiều hộ cùng chung sống trên một mảnh đất bị thu hồi

Theo Điều 86 Luật đất đai năm 2013 vì gia đình bạn có đất ở thu hồi phải di chuyển chỗ ở nên sẽ được bố trí tái định cư

"Điều 86. Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở
1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư.
Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi.
2. Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.
Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư.
3. Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
4. Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu.
Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu cho phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương."

Và theo Điều 27 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì suất tái định cư tối thiểu được quy định như sau:

"Điều 27. Suất tái định cư tối thiểu

1. Suất tái định cư tối thiểu quy định tại Khoản 4 Điều 86 của Luật Đất đai được quy định bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí tái định cư.

2. Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở thì diện tích đất ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa tại địa phương và diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng nhà ở thì diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền thì khoản tiền cho suất tái định cư tối thiểu tương đương với giá trị một suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở, nhà ở tại nơi bố trí tái định cư.

3. Căn cứ quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này và tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở nhà ở, bằng nhà ở và bằng tiền."

Như vậy, theo những quy định nêu trên thì gia đình bạn sẽ được cấp hai suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở nhà ở, bằng nhà ở và bằng tiền tùy theo tình hình cụ thể của địa phương. Do đó việc nhà bạn là nhà mặt đường chính (đường rộng 31 m), bây giờ họ chỉ bố trí tái định cư ở nhà mặt đường (đường rộng có 16 cho đến 22m) và lấy lí do rằng mặt đường mới chính (rộng 31 m) ở khu tái định cư chỉ giành cho các hộ dân có nhà đất bị thu hồi với diện tích 70m2 trở lên. Nhà bạn có 26,9m2, nhưng họ không chịu làm suất tái định cư loại nhỏ ở mặt đường 31m trong khu tái định cư. Bạn nghi ngờ rằng việc họ cố tình làm các suất tái định cư rộng 60m2 để nhà như bạn không đủ tiêu chuẩn để họ bán cho người khác. Việc nghi ngờ của bạn không có căn cứ.

Bạn sẽ được cấp đất tái định cư là suất đất tái định cư có diện tích không nhỏ hơn suất tái định cư tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở, đồng thời căn cứ vào tình hình địa phương mà UBND cấp tỉnh nơi bạn đang sinh sống sẽ quyết định về mức đất ở, nhà ở tái định cư cho gia đình bạn. Nên việc bạn muốn đòi suất tái định cư cho tương xứng với hiện trạng "mặt đường 31m hiện này" của bạn là chưa hợp lý.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

2. Đòi lại tiền đền bù đất như thế nào ?

Kính chào Luật sư: Tôi có một vấn đề cần Luật sư tư vấn như sau: Năm 1996 nhà tôi có thuê (thầu) diện tích hơn 1000m2 ao của xã trong thời gian 20 năm.

Trong hợp đồng đại diện xã là thôn phía cuối hợp đồng có xác nhận đóng dấu của chủ tịch xã. Gia đình tôi đã tiến hành nạo vét đắp bờ, và thả cá giống để làm kinh tế. Năm 2000 thôn dưới sự chỉ đạo của xã tiến hành thanh lý hợp đồng với gia đình tôi do diện tích ao thầu nằm trong dự án san lấp chia lô để bán. Gia đình tôi và thôn đã lập văn bản đền bù với số tiền là 74 triệu đồng. Năm 2006 khu đất được bán đấu giá, thôn có hứa sau khi thực hiện bán đấu giá sẽ trả lại tiền cho gia đình tôi. Tuy nhiên gia đình tôi vẫn không được trả lại và tiếp tục làm văn bản ghi nợ số tiến đã tính lãi là 171 triệu. Do không có tiền trả thôn đã tiến hành đền bù cho gia đình tôi mảnh đất với diện tích là 208 m2, có xác nhận của cán bộ thôn. Gia đình tôi đã chấp nhận việc đền bù này. Năm 2015 khu đất đền bù của gia đình tôi thuộc dự án đất kẹt bán đấu thầu. Gia đình có làm khiếu nại giải quyết thủ tục đến bù và xác nhận quyền sở hữu đất nên UBND xã.

Tuy nhiên chủ tịch hiện tại của xã xác nhận văn bản đền bù là sai thẩm quyền và nói về thôn tự giải quyết. Hiện nay cán bộ thôn đều là người mới và họ không hợp tác trong thủ tục đền bù này. Gia đình tôi hiện chưa biết phải làm thế nào ?

Nhờ luật Minh Khuê giải đáp giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tên khách hàng: Khánh Linh

Điều 44 Luật Đất đai (năm 2003) quy định:

"Điều 44. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được uỷ quyền."

Như vậy, căn cứ theo quy định pháp luật trên thì việc thu hồi, đền bù của thôn là sai quy định.

Trong trường hợp này, bạn làm đơn khiếu nại nên UBND xã về hành vi sai trái thu hồi diện tích hơn 1000m2 ao mà gia đình bạn đã thuê của xã, và không đền bù theo cam kết. Nếu xã không giải quyết thì bạn hãy làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn cư trú để Tòa xử lý theo thủ tục tố tụng dân sự.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng.!.

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

3. Hướnng dẫn việc đền bù thỏa đáng khi thu hồi đất ?

Kính gửi Công ty LUẬT MINH KHUÊ Trước tiên trân trọng cảm ơn quý Công ty đã có dịch vụ tư vấn hỗ trợ người dân trong vấn đề pháp luật. Tôi xin được trình bày việc của tôi , mong được Quý công ty tư vấn giúp. Gia Đình nhà anh H có mảnh đất khoảng 400 m2 và một căn nhà cấp 4 ở thửa đất số 169 tờ bản đồ số 10 tại thôn 8 xã Thạch Hà – Thach Thất – Hà Nội. Năm 1994 anh H và vợ là chị N đã làm thủ tục chuyển nhượng cho gia đình tôi ½ mảnh đất trên, diện tích đất chuyển nhượng khoảng 189 m2 và trên đất có 01 căn nhà cấp 4( đo diện tích thực tế khoảng 30 m2 ), và gia đình tôi đã trả tiền nhà và tiền đất cho anh H theo giá thỏa thuận tại thời điểm đó.
Việc mua bán bằng giấy tờ viết tay như bản file đính kèm Hiện nay gia đình chúng tôi có đầy đủ giấy tờ gốc của việc chuyển nhượng nói trên. Việc chuyển nhượng quyển sử dụng nhà và đất lâu dài ở trên được sự chấp thuận của chính quyền địa phương lúc bấy giờ xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp và được chứng thực bởi ủy ban nhân dân xã Thạch Hòa bằng văn bản chính thức “ GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÂU DÀI VÀ LÀM NHÀ Ở ” cho gia đình như chưng từ file đính kèm. Hiện nay gia đình chúng tôi có đầy đủ giấy tờ gốc của chính quyền xã xác nhận. Trong quá trình sử dụng nhà và đất trên: Gia đình đã thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước về đóng thuế đất, đóng góp các khoản phí xây dựng xã vv….và hiện gia đình còn giữ một số hóa đơn xã thu tiên thuế đất. Anh H còn lại khoảng 200 m2 đất và đã xây nhà mới để ở trên mảnh đất còn lại. Hiện nay mảnh đất trên trong diện giải tỏa giải phóng mặt bằng cho khu CN Láng Hòa Lạc. Ban Giải phóng mặt bằng thông báo chỉ đến bù mảnh đất trên giá trị: 200m2 đất ở, còn lại là đất vườn. Gia đình anh H được hưởng toàn bộ số quyền lợi 200m2 đất ở, gia đình tôi chỉ được hưởng diện tích 189 m2 đât vườn trồng trọt khoảng 28 triệu. Nếu gia đình tôi không thấy thỏa đáng thì 2 bên tư thương thảo hoặc đưa ra tòa chứ ban GPMB không biết việc mua bán trên.
Vậy Kính mong Công ty xem trường hợp gia đình tôi được giải quyết như vậy có đúng pháp luật không ?
Rất mong nhận được sự trợ giúp Gia đình Trân trọngcảm ơn Quý Công ty !

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết bạn và gia đình anh H có làm giấy tờ chuyển nhượng 1/2 mảnh đất mà anh H có ( 400m2 ) và đã được UBND xã chứng thực hợp đồng này, bạn cũng đã thực hiện đúng các quy định của nhà nước. Xong mảnh đất 400m2 của anh H trước khi chuyển nhượng cho bạn bao gồm đất ở và đất vườn, trong trường hợp khi tiến hành chuyển nhượng 1/2 mảnh đất này mà trên bản đồ địa chính thể hiện rõ nhà cấp 4 mà gia đình bạn nhận chuyển nhượng là nằm trên đất với mục đích sử dụng là đất ở thì gia đình bạn sẽ được nhận bồi thường là đất ở. Trong trường hợp trên bản đồ địa chính không thể hiện thì khi giải phóng mặt bằng gia đình bạn sẽ chỉ được bối thường là đất vườn. Bên cạnh đó khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại điều 75 Luật đất đai 2013 thì gia đình bạn sẽ được bồi thường bằng tiền hoặc đất nếu quỹ đất ở địa phương có điều kiện, mức bồi thường bằng tiền sẽ dựa theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

- Theo 1.6 điều 8 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường : Quy định về bản đồ địa chính quy định:

"Điều 8. Nội dung bản đồ địa chính

1.6. Nhà ở và công trình xây dựng khác: chi thể hiện trên bản đồ các công trình xây dựng chính phù hợp với mục đích sử dụng của thửa đất, trừ các công trình xây dựng tạm thời. Các công trình ngầm khi có yêu cầu thể hiện trên bản đồ địa chính phải được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình;"

"Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật."

"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 . Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

4. Giải đáp giúp em về vấn đề đền bù giải phóng đất lộ giới ?

Thưa luật sư! Em xin tư vấn cụ thể như sau: Gia đình em vào làm ăn kinh tế tại tỉnh Lâm Đồng 1999, năm 2004 huyện mới được thành lập và gia đình em làm nhà trước thời gian Huyện thành lập hiện đất nhà em chưa được cấp sổ vì lý do huyện quy hoạch treo từ năm 2004 đến nay. Đến tháng 7 năm 2016 Huyện thông báo trên loa truyền thanh và đến từng nhà đo và nói yêu cầu giải toả hành lang lộ giới để tiến hành mở rộng con đường nhưng trên thực tế Huyện chưa từng cắm mốc lộ giới. Hiện việc đo mốc giới này đã vào nhà em 2m nhà cấp IV. xin cho em hỏi các vấn đề sau:

1. Quy trình làm việc của huyện có đúng không.?

2. Nếu nhà nước giải toả thì gia đình em có được đền bù về đất và nhà không?

3. Em muốn biết Nhà nước làm đúng hay sai thì phải căn cứ vào các văn bản pháp luật nào ?

Em rất mong được sự giải đáp của các anh chị. Em xin chân thành cảm ơn.

Giải đáp giúp em về vấn đề đền bù giải phóng đất lộ giới?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào Điều 69 Luật đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng- an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

"Điều 69. Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất.

Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

b) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm;

c) Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

d) Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc. Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại Điều 70 của Luật này.

2. Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:

a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.

Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền;

b) Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.

3. Việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;

b) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

c) Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt;

d) Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.

Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật này.

4. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng."

Từ những căn cứ trên cho thấy việc thu hổi đất của UBND huyện là đúng theo quy định của pháp luật, trước khi tiến hành đo đạc, UBND có thông báo trên loa; có tiền hành đo đạc, có thể chưa cần cắm mốc mởi chỉ tiến hành đo đạc lần đầu; phải có danh sách thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;. Vậy nếu cần mở rộng đường mà bắt buộc phải thu hồi đất của gia đình bạn thì gia đình bạn có thể được bồi thường nếu thoả mãn điều kiện về bồi thường quy định tại Điều 75 Luật đất đai năm 2013:

"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

- Thu hổi đất để làm được với mục đích vì lợi ích của quốc gia, công cộng nên Nhà nước có quyền thu hồi đất theo quy định tại Điều 16 Luật đất đai năm 2013:

"Điều 16. Nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất

1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;

c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

2. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?

5. Tư vấn giải quyết đền bù đất đai khi nhà nước thu đất mở đường ?

Thưa luật sư, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Năm 1978 Ông Tâm được HTX giao 2000 m2 đất dọc Tỉnh lộ để sản xuất nông nghiệp và giao sản phẩm cho HTX. Khi HTX giải thể Ông Tâm tiếp tục canh tác và đóng thuế NN từ năm 1990 đến khi có chủ trương miễn thuế NN.
Năm 2006 Ông Tâm được UBND Xã thông báo bàn giao đất cho DNTN Hoàng Lê (không có QĐ thu hồi đất). Khi làm việc Ông Tâm (do không hiểu pháp luật) nên ghi câu thừa nhận đất này là đất công nhưng yêu cầu đền bù hoa màu và chuyển ngành nghề với đơn giá 250.000 đ/m2 (DNTN Hoàng Lê chỉ hỗ trợ 40.000 đ/m2). UBND Xã không đồng ý đề nghị của Ông Tâm, Ông tâm kiện lên UBND Huyện năm 2007. UBND huyện bác đơn ÔNg Tâm với lý do đây là đất thuộc quỹ đất công do Xã quản lý ( theo QĐ 22 năm 2002 của UBND Huyện )và ông Tâm cũng đã thừa nhận đây là đất công ích và không khiếu nại về đất . Ông Tâm tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnhĐồng Nai (cũng trong năm 2007). Do Tỉnh chậm xử nên Ông Tâm có Đơn khiếu nại (lần 2) ngày 30/12/2009 xác định đây không phải đất công nên yêu cầu đền bù đất( nộp qua bưu điện và đã thất lạc biên nhận) đồng thời có Đơn đề nghị UBND Huyện đền bù đất vì đây không phải lả đất công. Tháng 1/2010UBND tỉnh bác đơn với lý do khi mở rộng Tỉnh lộ Nhà nước không đền bù nhưng gia đình Ông Tâm không có khiếu nại, năm 2006 Ông Tâm cũng không khiếu nại về đất, Ông Tâm cũng thừa nhận không có đăng ký sử dụng đất. Xét đất có nguồn gốc do UBND Xã quản lý, Ông Tâm được giao khoán sử dụng nên căn cứ Nghị định 197/2004/Nđ-CP đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích không đền bù.

Ngày 29/6/2012 gia đình Ông tâm (Ông tâm đã chết) có Đơn khởi kiện QĐ 22 năm 2002 của UBND Huyện ( ông tâm chưa hề được nhận QĐ này, chỉ thấy QĐ bác đơn của Huyện căn cứ văn bản này nên kiện). Sau đó Tòa án trả đơn kiện với lý do thiếu QĐ 22 năm 2002 của UBND Huyện, ông Tâm chưa hề khiếu nạivề đất. Gia đình Ông tâm có Đ0ơn khiếu nại việc trả lại Đơn kiện với lý do ông đã có Đơn khiếu nại lần 2 xác định đây không là đất công ích đồng thời gởi bản sao QĐ 22 năm 2002 của UBND Huyện(gia đình Ông nhờ người quen xin ). Tháng 11/2012 Tòa có Văn bản thụ lý.

Ngày 10/01/2012 Tòa có Văn bản đình chỉ vụ án với lý do Ông tâm đã nhận biết QĐ 22 năm 2002 của UBND Huyện trong khoảng thời gian 2006-2007, tính đến ngày các nguyên đơn khởi kiện thì thời hiệu đã hết. Do Ông tâm và các nguyên đơn chưa từng khiếu nại QĐ 22 năm 2002 của UBND Huyện nên cũng không đủ điều kiện khởi kiện theo Khoản 3 Nghị quyết 56/2010/QH12 của Quốc Hội.

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Thùy Linh

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162

Tư vấn thu hồi đất mở đường - Ảnh minh họa

Trả lời:

Căn cứ Điều 263 Luật Tố tụng hành chính của Quốc hội, số 64/2010/QH12:

“Điều 263. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.

2. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 21 tháng 5 năm 1996, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính số 10/1998/PL-UBTVQH10 và số 29/2006/PL-UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.”

Căn cứ Điều 3 Nghị quyết 56/2010/QH12 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính:

“Điều 3: Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Như vậy, trong trường hợp này gia đình ông Tâm chưa nhận được quyết định 22 nhưng đã có đơn khiếu nại gửi nên UBND cấp huyện, cấp tỉnh nên cần xét trường hợp sau:

TH1: Nếu gia đình ông Tâm đã có khiếu nại về quyết định 22 của UBND từ ngày 01/06/2006 đến ngày 01/07/2011 mà không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm tính kể từ ngày 01/07/2011.

TH2: Nếu gia đình không thực hiện việc trên thì con ông Tâm không có đủ điều kiện để tòa án giải quyết việc khiếu nại trên.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền sử dụng đất ở khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?