Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

chao ls tôi là Hoàng ND tố cáo ông Hoàng Ngọc H lấn chiếm đất công từ năm 2010

Tôi gửi cho ls 2 QĐ. CÙNG KẾT LUẬN GIẢI QUYẾT TỐ CÁO và bản đồ địa chính các năm. Riêng bản đồ năm 2011 đường đứt gãy là tường rào ông n xây sau khi hoàn thành đường đông tây 2. Toàn bộ đoạn tường rào đó dài 24 m nhưng họ cưỡng chế chỉ phá 19,3 m còn 5,8m đoạn đến mốc giới 2 gia đình họ không phá và cho rằng đó là đoạn giáp ranh 2 nhà đúng hay sai xin Luật sư tư vấn giúp

Cảm ơn Qúy công ty, mong sớm nhận được phản hồi của Qúy công ty!

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Luật đất đai 2013;

Luật khiếu nại 2011;

NỘI DUNG TƯ VẤN

>> Xem thêm:  Sở hữu toàn dân về đất đai là gì ? Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là gì ?

1. Ông Hoàng NHchưa phá dỡ toàn bộ phần tường rào có đúng không?

Qua nghiên cứu hồ sơ của ông Hoàng ND cung cấp, ông Dyêu cầu hai vấn đề:

Thứ nhất, Ông Hoàng NNH chưa phá dỡ toàn bộ phần tường rào lấn chiếm vi phạm đất đường giao thông.

Thứ hai, Ông Hoàng NH chưa di chuyển toàn bộ cây cối ra khỏi phần đất vi phạm.

Để hai yêu cầu này được giải quyết, phải xác định được rõ phần đất 5,8m tường rào là đất giao thông hay là đất của hộ gia đình ông Hoàng NH

Trong biên bản làm việc ngày 29/07/2019, Đội kiểm tra quy tắc xây dựng thị xã Nghị SS ghi nhận nội dung: Ngày 27/7/2020 UBND phường TL đã có báo cáo số 306/BC - UBND ngày 27/7/2020 báo cáo kết quả giải quyết đơn tố cáo của ông Hoàng ND, với nội dung như sau: Sau khi tiến hành xác minh mốc giới, hộ gia đình ông H đã tự động chặt cây chuối, phá dỡ hàng rào thép gai, trả lại đất lấn chiếm cho Nhà nước. Riêng phần tường rào 5,8m ông H chưa tháo dỡ là phần đất ở thuộc ranh giới của hai gia đình, là phần đất nằm ngoài mốc đất đã thu hồi. 01 cây dừa còn tồn tại là do quá trình thi công đường Đông tây 2 không bị ảnh hưởng nên cây dừa vẫn chưa bị chặt hạ. Số chuối còn lại chưa chặt theo hồ sơ sử dụng đất ông H sử dụng đã lâu, ổn định không có tranh chấp và không thuộc phần đất đã thu hồi nên ông H không chặt.

Vậy ta có thể thấy, phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sau khi tiến hành xác định mốc giới, cũng xác định phần tường rào 5,8m ông H chưa tháo dỡ là phần đất ở thuộc ranh giới của hai gia đình, là phần đất nằm ngoài mốc đất đã thu hồi. Không phải là đất giao thông. Vậy không có căn cứ cơ sở để chứng minh diện tích 5,8m này là đất của giao thông, vi phạm đất giao thông. Về phần ông D cũng chưa ra được căn cứ nào để cho rằng phần diện tích 5,8m là nằm trong đất giao thông.

Hơn nữa, phía Đội kiểm tra quy tắc xây dựng thị xã NS cũng nhận phần đất 5,8m là ranh giới giữa hai gia đình, ông H cũng đã sử dụng ổn định, lâu dài.

Khoản 2 Điều 101 Luật đất đai 2013 quy định:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

>> Xem thêm:  Thẩm quyền cưỡng chế của UBND cấp xã đối với công trình xây dựng trái phép ?

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này..”

Theo quy định này, nếu đất mà không có bất kỳ giấy tờ nào, nhưng được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn thì có thể Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.

Vì vậy, phần diện tích đất này, nếu gia đình ông H sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004. UBND thị xã NS cũng ghi nhận ông H sử dụng ổn định, lâu dài, phù hợp với quy hoạch và nếu không có tranh chấp thì có thể còn có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mặt khác, ông D lại không có văn bản nào thể hiện điều ngược lại. Hoặc không có căn cứ nào xác nhận việc Đội kiểm tra quy tắc xây dựng thị xã Nghi Sơn hoặc UBND phường TL xác định như vậy là sai. Nên việc trả lời đơn tố cáo cho ông D của UBND thị xã NS là có căn cứ cơ sở.

2. Hướng giải quyết

Ngày 30/7/2020 UBND thị xã NS đã có văn bản trả lời nội dung đơn tố cáo của ông Hoàng ND. Nếu ông D không đồng ý với quan điểm giải quyết của UBND thị xã NS. Ông hoàn toàn có thể làm đơn khiếu nại đến chủ tịch UBND thị xã NS theo quy định tại khoản 1 Điều 7 luật khiếu nại 2011.

"Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền đo đạc địa chính thuộc văn phòng đăng ký đất đai ?

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

2. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp đơn khiếu nại được giải quyết bởi chủ tịch UBND thị xã Nghi Sơn nhưng ông vẫn không đồng ý hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết, ông có quyền khiếu nại lần hai đến chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính."

"Điều 8. Hình thức khiếu nại

1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

>> Xem thêm:  Trường hợp được thực hiện đăng ký lần đầu đối với đất đai, nhà ở ? Quyền của người sử dụng đất, nhà ở ? Thời hạn phải thực hiện thủ tục là bao lâu ?

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật này;

b) Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;

c) Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

5. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật này

Tuy nhiên, như phân tích ở phần 1 nếu ông không có thêm căn cứ nào chứng minh rằng phần diện tích 5,8m là nằm trong đất giao thông thì theo quan điểm của Luật Minh Khuê là rất khó để thuyết phục cơ quan có thẩm quyền chấp nhận yêu cầu của Qúy khách.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn đất đai” Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Các trường hợp phải đăng ký biến động đất đai theo Luật Đất đai 2013

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Không đăng ký biến động đất đai có thể bị xử phạt đến 5 triệu đồng

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khiếu nại về đất đai là gì?

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011 về khái niệm khiếu nại thì khiếu nại đất đai được hiểu như sau:

- Khiếu nại về đất đai là việc người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất theo thủ tục của Luật Khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Câu hỏi: Tố cáo về đất đai là gì?

Trả lời:

Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật về quản lí và sử dụng đất của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các đơn vị đó hoặc của những người khác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất

Câu hỏi: Quyền của người sử dụng đất trong việc khiếu nại, tố cáo về đất đai

Trả lời:

Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định ” Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.”