CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Khái niệm

Lãnh thổ của mỗi quốc gia là khoảng không gian thuộc chủ quyền của quốc gia. Khoảng không gian này có thể bao gồm đất liền, hải đảo, vùng trời, vùng biển.

>> Xem thêm:  Cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân là gì ? Phân quyền cho chính quyền địa phương

Lãnh thổ của mỗi quốc gia (phần đất liền, hải đảo) được chia thành các đơn vị lãnh thổ hợp thành. Việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị lãnh thổ là một trong những hướng hoạt động quan họng của bất cứ nhà nước nào. Nội dung của sự phân chia này là chia lãnh thổ thành các đơn vị (cấp cao, cấp trung gian, cấp cơ sở) và thiết lập ra bộ máy quản lý tương ứng. Như vậy, cơ cấu lãnh thổ là hệ thống các mối quan hệ giữa nhà nước nói chung với các đơn vị lãnh thổ hợp thành, tức là mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với các đơn vị lãnh thổ hợp thành.

Vấn đề phân chia lãnh thổ được biết đến từ khi lãnh thổ của quốc gia không ngừng được mở rộng và vượt ra ngoài phạm vi kiểm soát của chính quyền trung ương, ở thời kỳ phong kiến chuyên chế, chính quyền trung ương đứng đầu là nhà vua đã chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính này được quản lý bởi một quan chức hay bởi một cơ quan do nhà vua bổ nhiệm (thành lập). Và việc phân chia đơn vị hành chính này không hoàn toàn dựa trên ý muốn chủ quan mà căn cứ vào một loạt các yếu tố như: Mật độ dân số, diện tích đất đai, mối quan hệ giữa các cụm dân cư, trình độ quản lý của quan chức... Ngoài ra các yếu tố hành chính như vấn đề quốc phòng, an ninh trật tự, tiện lợi cho thu thuế cũng được tính đến trong quá trình phân chia đơn vị hành chính.

Một số đơn vị hành chính cơ sở có thể hợp thành một đơn vị hành chính lớn hơn. Một số đơn vị hành chính lớn này cũng có thổ hợp thành đơn vị hành chính lớn hơn nữa. Như vậy, lãnh thổ của mỗi quốc gia có thể được chia thành nhiều cấp đơn vị hành chính (hiện này phổ biến loại hai cấp và ba cấp). Các quan chức, cơ quan quản lý đơn vị hành chính cấp thấp phải phục tùng quan chức cơ quan của đơn vị hành chính cấp cao hơn. Khi xã hội phong kiến bước vào giai đoạn phân rã và dần chuyển sang giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản thì ở những đơn vị lãnh thổ cấp cơ sở (xã, công xã) bắt đầu hình thành chế độ tự quản địa phương. Sau đó chế độ tự quản đã nhanh chóng được áp dụng cho những đơn vị lãnh thổ cấp cao hơn. Bên cạnh đó trên thế giới còn diễn ra quá trình các nước lớn thôn tính những nước nhỏ, một số nước liên kết thành nhà nước liên bang. Từ đây sự phân chia hành chính lãnh thổ chuyển thành phân chia chính trị lãnh thổ đồng thời cơ cấu hành chính lãnh thổ chuyển thành cơ cấu chính trị lãnh thổ.

2. Loại hình cơ cấu chính trị lãnh thổ Liên bang:

2.1 Chủ thể liên bang:

Lãnh thổ của nhà nước liên bang bao gồm lãnh thổ của những tổ chức nhà nước khác. Những tổ chức nhà nước này được gọi là những chủ thể của liên bang. Ở các nước, tên gọi của chủ thể liên bang rất đa dạng. Ví dụ: Bang (State) ở Ân Độ, Brazin, Malaixia, Mêhicô, Mỹ, Úc, Vênêzuêla; Xứ (land) ở Áo, Cộng hòa Liên bang Đức; Tổng (Canton)- Thụy Sĩ; Tỉnh (province) - Ác hentina, Canada.

Ở Cộng hòa Liên bang Nga, trong số 89 chủ thể liên bang có 21 nước Cộng hòa, 6 vùng, 49 tỉnh, 2 thành phố trực thuộc liên bang, 11 khu tự trị, tỉnh tự trị.

Dấu hiệu của tổ chức nhà nước của các chủ thể liên bang thể hiện ở chỗ, mỗi chủ thể có quyền thông qua Hiến pháp của mình, tuy nhiên ở các nước Ấn Độ, Áchentina, Canada, Liên bang Nga không phải chủ thể nào cũng có Hiến pháp riêng. Hiến pháp của các chủ thể liên bang phải được ban hành trên cơ sở Hiến pháp của liên bang và không được trái với Hiến pháp liên bang;, mỗi chủ thể liên bang có quyền thiết lập quốc tịch của mình ngoài quốc tịch liên bang. Một số chủ thể của Ân Độ, Canada, Liên bang Nga, Venezuela không có quốc tịch riêng; mỗi chủ thể thành lập cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp của mình. Như vậy ở nhà nước liên bang tồn tại hai loại hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp - một của liên bang, một của các chủ thể liên bang.

2.2 Phương pháp phân định thẩm quyền giữa liên bang và chủ thể liên bang:

Các nhà nước liên bang áp dụng các phương pháp khác nhau để phân định thẩm quyền giữa liên bang với các chủ thể liên bang. Có các phương pháp sau:

  1. Hiến pháp liên bang liệt kê những vấn đề thuộc thẩm quyền của liên bang và những vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ thể liên bang: Áchentina, Brazin, Canada, Mỹ, Thụy Sĩ, Venezuela.
  2. Hiến pháp liên bang quy định phạm vi những vấn đề thuộc thẩm quyền của liên bang của chủ thể liên bang và phạm vi những vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết chung của Liên bang và các chủ thể Liên bang: Ân Độ, Đức, Malaixia.
  3. Hiến pháp liên bang quy định phạm vi những vấn đề thuộc thẩm quyền của liên bang, thuộc thẩm quyền chung của liên bang với các chủ thể liên bang. Ngoài phạm vi những vấn đề đó sẽ thuộc thẩm quyền của các chủ thể liên bang: Liên bang Nga.
  4. Phương pháp phân định thẩm quyền phức tạp nhất được nước Áo áp dụng. Hiến pháp Áo năm 1920 quy định.

2.3 Những lĩnh vực và những vấn đề chỉ có cơ quan liên bang mới có quyền ban hành luật

- Những lĩnh vực và những vấn đề chỉ có cơ quan liên bang mới có quyền ban hành luật và thừa hành luật (Điều 10)

  • Những lĩnh vực và những vấn đề mà cơ quan liên bang có quyền ban hành luật, các cơ quan chủ thể của liên bang (các Tổng) chịu trách nhiệm thừa hành (Điều 2).
  • Những lĩnh vực và những vấn đề mà cơ .quan liên bang có quyền quy định những nguyên tắc lập pháp cơ bản và trên cơ sở những nguyên tắc đó chủ thể liên bang ban hành luật và tổ chức việc thực hiện các văn bản này (Điều 12).
  • Những lĩnh vực và những vấn đề thuộc thẩm quyền riêng của các chủ thể liên bang ban hành luật và thừa hành luật (Điều 15). Tuy nhiên, các văn bản luật do chủ thể liên bang ban hành phải phù hợp với Hiến pháp và luật liên bang. Thẩm quyền của liên bang và của chủ thể liên bang trong lĩnh vực thuế được quy định riêng trong đạo luật hiến pháp về tài chính.

Đa số nhà nước liên bang có chính thể cộng hòa, tuy nhiên có nước mang chính thể quân chủ như các tiểu vương quốc Ảrập, Malaixia. Nhà nước Bỉ, Canada, úc có chính thể quân chủ nhưng các chủ thể liên bang lại mang chính thể cộng hòa.

2.4 Cơ cấu chính trị lãnh thổ Liên bang được cụ thể hóa:

Mối quan hệ giữa nhà nước liên bang với các chủ thể liên bang được xây dựng theo nguyên tắc tản quyền. Thời kỳ nhà nước liên bang mới hình thành phổ biến học thuyết “chủ nghĩa liên bang nhị nguyên” (Dualistic federalism). Nội dung của học thuyết này là cân bằng quyền lực giữa nhà nước liên bang với chủ thể liên bang bằng cách phân định rõ thẩm quyền của liên bang và thẩm quyền của các chủ thể liên bang, nhà nước liên bang và các chủ thể liên bang độc lập thực hiện quyền hạn của mình, không can thiệp vào công việc của chủ thể khác. Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 áp dụng học thuyết này. Sau này hình thành một học thuyết khác có tên là “chủ nghĩa liên bang hợp tác” (Co­operative federalism). Nội dung của học thuyết này là sự phối họp, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa nhà nước liên bang với các chủ thể liên bang. Đa số nhà nước liên bang hiện nay áp dụng học thuyết này.

Số lượng thành viên, chủ thổ liên bang của các nhà nước liên bang rất khác nhau. Ví dụ, nước Áo có 9 chủ thể; An Độ 25; Argentina, 24, Brazin 27; Canada 50, úc 6; Thụy Sĩ 23. Các chủ thể của nhà nước hên bang Áo, Áchentina, Brazin, Đức, Mêhicô, Mỹ, úc được xây dựng theo nguyên tắc lãnh thổ. Các chủ thể của một số nhà nước hên bang khác được xây dựng theo nguyên tắc dân tộc (tôn giáo, ngôn ngữ...). Ví dụ, trong số 10 chủ thể của nước Canada, có 9 chủ thể của những người nói tiếng Anh, 1 chủ thể của người nói tiếng Pháp (tỉnh Kêbếch); nước Bỉ có 3 chủ thể, một của người nói tiếng Pháp, 1 tiếng Đức, 1- hỗn hợp hai thứ tiếng Pháp, Đức. Nước Liên bang Nga kết hợp cả hai nguyên tắc.

Hiện nay trên thế giới không một Hiến pháp của Nhà nước liên bang nào công nhận quyền của các chủ thể liên bang tách ra khỏi liên bang. Lịch sử của một số nhà nước liên bang cho thấy, việc một vài chủ thể liên bang tự động tự động tách khỏi liên bang sẽ dẫn đến xung đột vũ trang. Ví dụ, cuộc chiến tranh Bắc Nam của nhà nước Mỹ 1861- 1865. Nguyên nhân là do một số bang ở Miền Nam nước Mỹ tự động tách khỏi liên bang vi phạm Hiến pháp 1787; cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1988 đến năm 1994 ở nước Liên bang Nam Tư dẫn đến việc chia nước Liên bang Nam Tư thành năm nước nhỏ; trước khi nhà nước Liên Xô tan rã vào tháng 12 năm 1991, ở Vinhút, Tbilixi diễn ra các cuộc xung đột giữa chính quyền liên bang với các tổ chức ly khai; hăm 1971 dưới sự ủng hội vũ trang của Ân Độ, phần đất phía đông nước Pakítxtăng đã nổi dậy tách ra khỏi Pakítxtăng thành lập nhà nước Bănglađét. Tuy nhiên cũng có trường hợp tách nhà nước liên bang bằng con đường thượng lượng hòa bình. Ví dụ, năm 1965 Singapore tách khỏi Malaixia thành lập nhà nước Singapore, nãm 1990-1991, nước Tiệp Khắc tách đôi thành hai nước cộng hòa độc lập séc và Xlôvaki.

Hiến pháp của một số nhà nước Liên bang đề cập đến việc tiếp nhận thành viên mới. Ví dụ, phần 1 khoản 3 Điều 4 Hiến pháp Mỹ quy định: “Quốc hội có thể chấp thuận cho nhập vào liên bang những bang mới, nhưng bang mới không được thiết lập hoặc thành lập trong phạm vi lãnh thổ của bang khác và không một bang nào được thành lập bằng cách sát nhập hai hay nhiều bang hoặc nhiều phần của các bang, nếu không được sự đồng ý của Quốc hội lập pháp của các bang cũng như của Quốc hội liên bang”; đoạn 2 Điều 66 Hiến pháp Liên bang Nga quy định khả năng tiếp nhận vào Liên bang Nga những thành viên mới. Điều kiện, thủ tục tiếp nhận sẽ được điều chỉnh bởi đạo luật Hiến pháp liên bang.

Giữa nhà nước liên bang và nhà nước liên minh có sự khác biệt sau. Nếu như liên bang là loại hình cơ cấu lãnh thổ của một nhà nước thì liên minh là loại hình liên kết giữa các quốc gia độc lập. Ví dụ, Cộng đổng các quốc gia độc lập (SNG) là liên minh của các nước thuộc Liên Xô cũ trước đây, trong đó có Liên bang Nga; Liên minh châu Âu (khối EC) bao gồm các quốc gia Tây, Bắc Âu. Cũng như nhà nước liên bang, liên minh cũng có thể có Nghị viện, Chính phủ, Tòa án tối cao chung, tuy nhiên sự khác biệt giữa hai loại nhà nước này ở chỗ, các văn bản do cơ quan lập pháp, hành pháp của nhà nước liên minh ban hành phải được cơ quan lập pháp của các nhà nước thành viên phê chuẩn mới có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của nhà nước thành viên đó. Các nước thành viên có quyền hủy bỏ các văn bản của liên minh. Hiện nay một số văn bản do Nghị viện Liên minh châu Âu và Tòa án Liên minh châu Âu ban hành có hiệu lực bắt buộc đối với mọi nước thành viên mà không cần phải được sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp của các nước thành viên.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chính quyền là gì ? Thẩm quyền của chính quyền địa phương

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Ớ Anh, đơn vị hành chính cấp cao được gọi là gì?

Trả lời:

Ớ Anh, đơn vị hành chính cấp cao là lãnh địa (Country). 

Câu hỏi: Đơn vị hành chính trung gian của nước Anh, Mỹ gọi là gì?

Trả lời:

Đơn vị hành chính trung gian của nước Anh, Mỹ là địa hạt , đơn vị hành chính cơ sở là xã, thành phố.

Câu hỏi: Ở Italia đơn vị hành chính, chính trị - hành chính gồm những đơn vị nào?

Trả lời:

 Ở Italia đơn vị hành chính, chính trị - hành chính gồm vùng, tỉnh và công xã.