Quản lý chặt chẽ vũ khí quân dụng, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe của người dân. Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội danh được quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đóng vai trò then chốt trong công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ và sự thay đổi của các phương thức phạm tội, việc áp dụng pháp luật trên thực tế đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với các cơ quan tiến hành tố tụng.

 

1. Cấu thành Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là tội phạm có cấu thành vật chất, tức là tội phạm được xác định là hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi được mô tả trong điều luật, không phụ thuộc vào việc hậu quả có xảy ra hay không.

  • Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước về vũ khí quân dụng và phương tiện kỹ thuật quân sự, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe của con người.
  • Mặt khách quan của tội phạm: Điều 304 BLHS quy định một loạt các hành vi trái phép như: "chế tạo," "tàng trữ," "vận chuyển," "sử dụng," "mua bán" hoặc "chiếm đoạt" vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.
  • Mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện hành vi phạm tội này với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật và mong muốn thực hiện hành vi đó.
  • Chủ thể của tội phạm: Là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

2. Khung hình phạt Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng 

Nội dung Điều 304 BLHS năm 2015 quy định như sau:

Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng: từ 03 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; từ 01 đến 05 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; từ 05 đến 15 quả mìn, lựu đạn; từ 03 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo; từ 300 đến 1.000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; từ 10 kilôgam đến 30 kilôgam thuốc nổ các loại hoặc từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; từ 3.000 mét đến dưới 10.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

đ) Vật phạm pháp có số lượng: từ 11 đến 30 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; từ 6 đến 20 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; từ 16 đến 45 quả mìn, lựu đạn; từ 11 đến 30 quả đạn cối, đạn pháo; từ 1.001 đến 3000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; từ 601 đến 2.000 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; từ trên 31 kilôgam đến 100 kilôgam thuốc nổ các loại; từ 3.001 đến 10.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ hoặc từ 10.000 mét đến dưới 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có số lượng: từ 31 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên trở lên; từ 21 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41 trở lên; từ 46 quả mìn, lựu đạn trở lên; từ 31 quả đạn cối, đạn pháo trở lên; từ 3001 viên đạn trở lên (đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống); từ 2.001 viên đạn súng máy cao xạ trở lên (đạn cỡ 12,7 ly đến 25 ly); từ 101 kilôgam trở lên thuốc nổ các loại; từ 10.001 nụ xuỳ hoặc ống nổ trở lên hoặc từ 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ trở lên.

b) Làm chết 03 người trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Hình phạt cho tội danh này được chia thành các khung dựa trên mức độ nghiêm trọng của hậu quả, căn cứ theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015:

Khung 1 (Khoản 1): Phạt tù từ 01 năm đến 07 năm đối với người chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

Khung 2 (Khoản 2): Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; Vật phạm pháp có số lượng: từ 03 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; từ 01 đến 05 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; từ 05 đến 15 quả mìn, lựu đạn; từ 03 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo; từ 300 đến 1.000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; từ 10 kilôgam đến 30 kilôgam thuốc nổ các loại hoặc từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; từ 3.000 mét đến dưới 10.000 mét dây cháy chậm, dây nổ. Vận chuyển, mua bán qua biên giới; Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm.

Khung 3 (Khoản 3): Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Làm chết 02 người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. Vật phạm pháp có số lượng: từ 11 đến 30 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; từ 6 đến 20 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; từ 16 đến 45 quả mìn, lựu đạn; từ 11 đến 30 quả đạn cối, đạn pháo; từ 1.001 đến 3000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; từ 601 đến 2.000 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; từ trên 31 kilôgam đến 100 kilôgam thuốc nổ các loại; từ 3.001 đến 10.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ hoặc từ 10.000 mét đến dưới 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

Khung 4 (Khoản 4): Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Vật phạm pháp có số lượng: từ 31 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên trở lên; từ 21 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41 trở lên; từ 46 quả mìn, lựu đạn trở lên; từ 31 quả đạn cối, đạn pháo trở lên; từ 3001 viên đạn trở lên (đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống); từ 2.001 viên đạn súng máy cao xạ trở lên (đạn cỡ 12,7 ly đến 25 ly); từ 101 kilôgam trở lên thuốc nổ các loại; từ 10.001 nụ xuỳ hoặc ống nổ trở lên hoặc từ 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ trở lên. Làm chết 03 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

Khung bổ sung (Khoản 5): Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

2.1. Ranh giới giữa Tội phạm và Vi phạm hành chính

Một trong những vấn đề gây tranh cãi trong thực tiễn là ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự đối với hành vi tàng trữ vũ khí. Tội phạm được định nghĩa là những hành vi có "mức độ nguy hiểm cho xã hội" cao hơn vi phạm hành chính. Chế tài xử lý vi phạm hành chính chủ yếu tác động đến tài sản và tinh thần (phạt tiền, cảnh cáo), trong khi chế tài hình sự phần lớn liên quan đến việc tước quyền tự do của người phạm tội.

Mặc dù Điều 304 BLHS không quy định định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự , nhưng trên thực tế, việc xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ chỉ một viên đạn bị nhặt được là quá nghiêm khắc. Một số chuyên gia cho rằng cần áp dụng chế tài hành chính đối với những hành vi có mức độ nguy hiểm thấp, chẳng hạn như tàng trữ một viên đạn, để đảm bảo tính răn đe của luật hình sự và tránh tình trạng hình sự hóa tràn lan. Điều này cho thấy có sự mâu thuẫn giữa quan điểm cứng rắn "mọi hành vi trái phép đều là tội phạm" và quan điểm mềm dẻo "chỉ hình sự hóa những hành vi gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội."

2.2. Phân tích hình phạt thông qua bản án thực tiễn 

Vụ án Hà Duy Tân – Tàng trữ Trái phép Vũ khí Quân dụng: Bản án số 94 ngày 07/12/2023 của TAND tỉnh Bạc Liêu về vụ án Hà Duy Tân là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng Điều 304 BLHS. Bị cáo Hà Duy Tân đã mua một khẩu súng và 05 viên đạn với giá 2 triệu đồng qua mạng xã hội. Sau khi nhận hàng, bị cáo phát hiện nòng súng bị nứt, gãy nhưng không liên hệ được với người bán. Bị cáo đã gói khẩu súng vào bọc nylon và giấu trong chậu kiểng. Khi đang di chuyển để cất giấu ở nơi khác thì bị công an bắt quả tang.

Việc xử lý hình sự đối với bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, bởi hành vi "tàng trữ trái phép" vũ khí quân dụng đã cấu thành tội phạm. Điều đáng chú ý là ngay cả khi khẩu súng bị hỏng, nó vẫn được xác định là vật phẩm phạm tội. Bản án này cho thấy tính răn đe mạnh mẽ của pháp luật Việt Nam, theo đó, việc tàng trữ VKQD, dù là với số lượng ít hay thậm chí là vật phẩm bị lỗi, vẫn là hành vi vi phạm nghiêm trọng và sẽ bị xử lý hình sự. Việc định tội không phụ thuộc vào tình trạng còn nguyên vẹn 100% của vũ khí, mà dựa trên bản chất của vật phẩm và hành vi vi phạm của đối tượng.

Vụ án Nguyễn Thanh L – Hủy án sơ thẩm và Áp dụng Pháp luật phức tạp: Vụ án Nguyễn Thanh L tại TAND tỉnh Sóc Trăng cho thấy những tình huống pháp lý phức tạp trong việc định tội. Nguyễn Thanh L nhận một khẩu súng bút và 6 viên đạn để bán cho người khác. L đã chào bán cho Nguyễn Anh K qua Zalo nhưng giao dịch chưa hoàn thành. Sau đó, L bị bắt vì tội ma túy, và khẩu súng được tìm thấy trong nhà. Tòa án sơ thẩm chỉ xử phạt L về tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".

Tuy nhiên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã kháng nghị, cho rằng Tòa án sơ thẩm đã bỏ lọt tội "Mua bán trái phép vũ khí quân dụng" đối với L và dấu hiệu tội phạm đối với K. Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị và tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Vụ án này minh họa rõ vai trò quan trọng của Viện Kiểm sát trong việc giám sát hoạt động tư pháp. Sự khác biệt về quan điểm giữa Tòa án và Viện Kiểm sát cho thấy ranh giới giữa hành vi "tàng trữ" và "mua bán" đôi khi rất mỏng manh, đặc biệt khi hành vi giao dịch được thực hiện qua mạng mà chưa có sự trao đổi vật chất. Quyết định hủy án sơ thẩm để điều tra lại thể hiện sự nghiêm minh của hệ thống tố tụng, không chấp nhận việc bỏ lọt tội phạm và thiếu sót trong quá trình điều tra, xét xử.

Vụ án Triệt phá Đường dây Mua bán Vũ khí trên Không gian mạng tại TP.HCM: Gần đây, Công an TP.HCM đã triệt phá một đường dây mua bán, tàng trữ vũ khí quân dụng quy mô lớn, hoạt động trên không gian mạng thông qua các nhóm kín như "Phế liệu chiến tranh". Vụ án này liên quan đến 71 bị can ở 26 tỉnh, thành phố và đã thu giữ tang vật "khủng" bao gồm gần 100 khẩu súng, 9.000 viên đạn và hàng ngàn linh kiện vũ khí.

Vụ án này phản ánh một xu hướng tội phạm mới: tội phạm về vũ khí quân dụng không còn chỉ tồn tại dưới hình thức vật lý đơn lẻ mà đã dịch chuyển mạnh mẽ lên không gian mạng. Các nền tảng xã hội trở thành nơi tội phạm trao đổi thông tin, mua bán, tạo ra những thách thức mới cho công tác điều tra và quản lý. Tình huống này cũng cho thấy tính chất phức tạp và đa tội danh của các tổ chức tội phạm hiện nay, khi các bị can không chỉ phạm tội liên quan đến vũ khí mà còn phạm các tội khác như ma túy và tiền giả. Vụ án cho thấy sự phối hợp hiệu quả giữa các lực lượng công an ở nhiều địa phương trong việc đấu tranh với loại tội phạm xuyên quốc gia, sử dụng công nghệ cao.

2.3. Phân tích các văn bản hướng dẫn và liên quan

Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC: Để thống nhất việc áp dụng Điều 304 BLHS, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP vào ngày 9/9/2022, có hiệu lực từ ngày 01/11/2022. Nghị quyết này đã làm rõ nhiều khái niệm quan trọng, giúp các cơ quan tố tụng có cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

  • "Chế tạo trái phép": Nghị quyết giải thích đây là hành vi làm mới hoàn toàn hoặc lắp ráp từ các bộ phận, chi tiết của vũ khí quân dụng mà không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Điều này bao gồm cả trường hợp các cơ sở được cấp phép sản xuất nhưng lại sản xuất vũ khí ngoài danh mục hoặc vượt quá số lượng cho phép, trừ trường hợp nghiên cứu cải tiến sản xuất vũ khí mới theo đề tài khoa học đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.
  • "Tàng trữ trái phép": Là hành vi cất giữ vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nơi cất giữ có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong người, hành lý hoặc bất kỳ vị trí nào khác. Hành vi này bao gồm cả việc không khai báo hoặc không giao nộp vũ khí có được từ bất kỳ nguồn nào như cho, tặng, hay nhặt được.
  • "Vận chuyển trái phép": Là hành vi di chuyển vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự từ nơi này đến nơi khác, từ người này sang người khác mà không có lệnh hoặc giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.
  • "Sử dụng trái phép": Là hành vi dùng vũ khí mà không có giấy phép, nhằm phát huy tác dụng của chúng. Ví dụ như lên đạn, bóp cò súng quân dụng, hoặc rút chốt lựu đạn.

Sự ra đời của Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP là một minh chứng cho thấy sự chủ động của cơ quan tư pháp Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đáp ứng kịp thời với thực tiễn. Khi một đạo luật mới được ban hành, các vấn đề phát sinh trong quá trình áp dụng là điều không thể tránh khỏi. Chính các văn bản hướng dẫn dưới luật như Nghị quyết này đã cụ thể hóa và lấp đầy các khoảng trống, tạo ra sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống tội phạm.

Ngoài ra, để xác định khung hình phạt phù hợp, Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP đã hướng dẫn chi tiết về "số lượng lớn," "số lượng rất lớn" và "số lượng đặc biệt lớn" đối với từng loại vật phẩm phạm tội. Bảng dưới đây tổng hợp các tiêu chí định lượng quan trọng nhất: 

Loại vật phạm pháp Số lượng lớn (Khoản 2) Số lượng rất lớn (Khoản 3) Số lượng đặc biệt lớn (Khoản 4)
Súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên Từ 3 đến 10 khẩu Từ 11 đến 30 khẩu Từ 31 khẩu trở lên
Đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống Từ 301 đến 1.000 viên Từ 1.001 đến 3.000 viên Từ 3.001 viên trở lên
Bom, mìn, lựu đạn Từ 6 đến 20 quả Từ 21 đến 50 quả Từ 51 quả trở lên
Súng trung liên, súng chống tăng Từ 1 đến 5 khẩu Từ 6 đến 30 khẩu Từ 31 khẩu trở lên
Súng đại liên, súng cối, tên lửa chống tăng Từ 1 đến 2 khẩu Từ 3 đến 20 khẩu Từ 21 khẩu trở lên
  • "Vũ khí quân dụng" (VKQD): Theo Luật này, VKQD bao gồm các loại súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, đạn, bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác.
  • "Phương tiện kỹ thuật quân sự": Được định nghĩa là các loại xe, khí tài, phương tiện khác được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

3. Phân tích vướng mắc, bất cập và đề xuất kiến nghị 

Dựa trên kinh nghiệm tư vấn và thực tiễn tham gia các vụ án hình sự có liên quan đến tội danh này, Luật Minh Khuê nhận thấy có một số bất cập khi áp dụng pháp luật như sau: 

Thứ nhất, những vướng mắc về vũ khí tự chế. Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP đã hướng dẫn cụ thể việc định lượng đối với các loại vũ khí quân dụng tiêu chuẩn, nhưng lại chưa có hướng dẫn tương tự đối với vũ khí tự chế. Tình trạng này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong xét xử. Ví dụ, một đối tượng chế tạo và tàng trữ 10 khẩu súng tự chế, mặc dù được giám định là vũ khí quân dụng, nhưng có thể chỉ bị truy tố theo khoản 1 Điều 304, trong khi cùng số lượng đó nếu là súng quân dụng tiêu chuẩn thì sẽ thuộc khung "số lượng lớn" (từ 3 đến 10 khẩu) và bị truy tố theo khoản 2.

Đây là một khoảng trống pháp lý đáng lo ngại, cho thấy pháp luật đang chậm hơn so với thực tiễn tội phạm. Sự thiếu hụt các quy định cụ thể về định lượng vũ khí tự chế tạo ra sự thiếu công bằng trong việc áp dụng pháp luật, làm giảm tính răn đe đối với loại tội phạm mới này.

Thứ hai, vướng mắc về vũ khí thô sơ có tính sát thương cao. Việc xác định một con dao, mã tấu là "vũ khí quân dụng" hay chỉ là "vũ khí thô sơ" phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người sử dụng. Theo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024, một con dao có tính sát thương cao được xem là "Vũ khí quân dụng" nếu được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe trái pháp luật. Ngược lại, nếu mục đích là gây rối, chống đối hoặc thực hiện hành vi phạm tội khác, dao đó được coi là "vũ khí thô sơ".

Việc định tội dựa trên ý thức chủ quan đặt ra thách thức lớn cho cơ quan điều tra trong việc thu thập bằng chứng về mục đích sử dụng. Điều này đòi hỏi một quá trình điều tra kỹ lưỡng và giám định tư pháp bắt buộc để xác định chủng loại, tính năng và mục đích của vật phẩm. Nếu không có bằng chứng rõ ràng về ý thức chủ quan, việc khởi tố có thể thiếu căn cứ pháp lý.

Từ những phân tích trên cho thấy khung pháp lý của Việt Nam về tội danh này đã khá đầy đủ, với nền tảng là Điều 304 BLHS và được cụ thể hóa bởi Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP. Thực tiễn xét xử cho thấy các cơ quan tố tụng đã áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật để xử lý nhiều vụ án phức tạp, từ hành vi tàng trữ đơn lẻ đến các đường dây tội phạm có tổ chức trên không gian mạng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khoảng trống pháp lý, đặc biệt là trong việc định lượng đối với vũ khí tự chế và việc xác định ý thức chủ quan của người phạm tội khi sử dụng vũ khí thô sơ có tính sát thương cao. Sự so sánh với pháp luật quốc tế cho thấy Việt Nam có chung triết lý quản lý chặt chẽ với các quốc gia như Nhật Bản và Singapore, nhưng vẫn có những điểm đặc trưng riêng.

Nhìn chung, khung pháp lý của Việt Nam đã tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh với tội phạm về vũ khí. Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP đã giải quyết nhiều vướng mắc trong việc định nghĩa các hành vi phạm tội và tiêu chí định khung hình phạt. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của tội phạm, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để chế tạo và mua bán vũ khí tự chế, đang đặt ra thách thức cho các nhà lập pháp. Sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn chi tiết đối với loại tội phạm mới này có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất trong xét xử, làm giảm tính răn đe của pháp luật.

Để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về vũ khí, có thể xem xét một số kiến nghị sau:

Về mặt pháp luật: Cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về việc định lượng "số lượng lớn" đối với các loại vũ khí tự chế, tương tự như cách đã làm đối với vũ khí quân dụng tiêu chuẩn.Thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật đối với vũ khí thô sơ có tính sát thương cao, có thể thông qua việc ban hành một Thông tư liên tịch mới thay thế các văn bản cũ và làm rõ hơn mối quan hệ giữa ý thức chủ quan của người phạm tội và tính chất của vật phẩm.

Về mặt thực tiễn: Cần tăng cường công tác giám định tư pháp để xác định chính xác tính năng, chủng loại, nguồn gốc và mục đích sử dụng của vật phẩm, làm cơ sở vững chắc cho việc định tội; Đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành giữa các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án để đảm bảo tính thống nhất trong việc định tội, định khung hình phạt, đặc biệt là trong các vụ án phức tạp và liên quan đến tội phạm công nghệ cao; Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân, khuyến khích họ tự giác giao nộp vũ khí có được từ các nguồn không chính thức, từ đó góp phần giảm thiểu các hành vi vi phạm.

 

4. So sánh pháp luật Việt Nam với Quốc tế 

4.1. So sánh với Canada và Nhật Bản

Pháp luật Việt Nam dựa trên nguyên tắc cấm tuyệt đối sở hữu vũ khí quân dụng trong dân sự, với mục tiêu bảo đảm tuyệt đối sự quản lý của nhà nước về vũ khí. Triết lý này khác biệt đáng kể với một số quốc gia phát triển khác.

  • Canada: Quốc gia này có chính sách kiểm soát súng đạn rất nghiêm ngặt. Gần đây, Canada đã ban hành các biện pháp "đóng băng" hoạt động mua bán súng ngắn trên toàn quốc và cấm nhiều loại vũ khí tấn công, bao gồm các mẫu súng trường như AR-15. Mặc dù vậy, chính sách này vẫn có những ngoại lệ nhất định cho các loại súng săn và súng thể thao, nhưng quyền sở hữu phải tuân thủ các quy định rất chặt chẽ.
  • Nhật Bản: Luật vũ khí của Nhật Bản thuộc hàng nghiêm ngặt nhất thế giới, quy định "Không ai được sở hữu vũ khí, súng cầm tay hoặc gươm giáo". Ngoại trừ cảnh sát và quân đội, người dân bị cấm tuyệt đối sở hữu súng ngắn. Những người có nhu cầu sử dụng súng săn hoặc súng hơi phải trải qua khóa học, kiểm tra định kỳ và tuân thủ các quy định nghiêm ngặt.

4.2. So sánh với Singapore

Tương tự như Việt Nam, Singapore áp dụng các chế tài cực kỳ nghiêm khắc để kiểm soát vũ khí. Đạo luật về Tội phạm Vũ khí (Arms Offences Act) của Singapore được biết đến là một trong những đạo luật hình sự nghiêm khắc nhất trên thế giới. Chính sách này phản ánh một mô hình quản lý chặt chẽ của nhà nước đối với lĩnh vực vũ khí, với mục tiêu cao nhất là duy trì trật tự và an toàn xã hội.

4.3. Bảng So sánh Pháp luật Việt Nam và Quốc tế

Tiêu chí Việt Nam Canada Nhật Bản Singapore
Triết lý quản lý Cấm tuyệt đối sở hữu VKQD trong dân sự Kiểm soát nghiêm ngặt, cấm nhiều loại vũ khí tấn công Cấm tuyệt đối sở hữu súng ngắn trong dân sự Kiểm soát nghiêm ngặt, chế tài hình sự rất nặng
Loại vũ khí được phép sở hữu Vũ khí thô sơ, thể thao (có giấy phép) Súng săn, súng thể thao (có giấy phép) Súng săn, súng hơi (qua đào tạo, kiểm tra) Rất hạn chế, gần như không có
Điểm đặc trưng Pháp luật đang liên tục cập nhật để theo kịp các phương thức phạm tội mới Áp dụng chính sách "đóng băng" mua bán súng ngắn trên toàn quốc Một trong những luật kiểm soát súng nghiêm ngặt nhất thế giới Hệ thống pháp luật hình sự rất cứng rắn về vũ khí